Suy nghĩ về tháng 11


Phúc âm: Gioan 17, 24-26
Tháng 11 dành riêng để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên; thân nhân; ân nhân; thân bằng quyến thuộc đã qua đời.
Như chúng ta đã biết, việc cầu nguyện cho những người đã qua đời, là truyền thống của KyTô giáo, bắt nguồn cách tự nhiên trong giáo thuyết của Thánh Phaolô và sự thông hiệp anh em với nhau trong thân mình của Đức KyTô. Trong thư gởi giáo đoàn Rôma (12,5) Thánh Phaolô nói: “Như trong thân xác tự nhiên, hoạt động của một bộ phận đều đem lại lợi ích cho toàn thân, cũng như vậy như thế trong thân mình thiêng liêng là Giáo hội và bởi vì mọi tín hữu chỉ làm nên một thân mình, thì điều tốt lành cho một chi thể sẽ thông qua chi thể khác, mà như đã biết Giáo hội gồm trên Thiên quốc; Giáo hội đang lữ hành trần thế và anh chị em nơi luyện tội, những người đang phải trải qua thanh luyện để xứng đáng vào Vương quốc của Thiên Chúa.

Điều làm chúng ta tin tưởng trong lời cầu xin, là khi chúng ta họp nhau cầu nguyện, thì có sự bảo đảm của Đức KyTô Phục Sinh, chính Ngài đang hiện diện giữa chúng ta, bởi là đầu của thân mình, nên không chỉ riêng chúng ta là Giáo hội trần gian dâng lời cầu nguyện, mà chúng ta đang hiện diện dâng cùng các Triều Thần Thánh trên Trời dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Chúa Kytô đang hiện diện nơi đây, Ngài muốn cho tất cả thuộc về Ngài, thuộc về Vương quốc Ngài, chính Ngài cầu xin cùng Chúa Cha “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho con thì con muốn rằng, con ở đâu thì chúng cũng ở đó với con”. Chúa Giêsu ở đâu thì chúng ta cũng được ở đó với Người.
Có một điều kỳ lạ trong những điều kỳ lạ của KyTô giáo, mà duy chỉ đức tin chúng ta mới có thể vượt qua được: đó là khi đứng bên nấm mồ đơn sơ như một ụ đất nhỏ hay nguy nga lộng lẫy bằng đá cẩm thạch với những nét hoa văn độc đáo cổ xưa hay tân thời, cũng không che dấu được sự thật hiển nhiên bên trong: Thân xác thối rữa nằm đó đang dần trở về bụi đất. thế nên khi nghe chúng ta tuyên tín “Xác loài người ngày sau sống lại”. Đối với những người không có niềm tin thì thật là nực cười. Thế nhưng chính niềm tin KyTô giáo từ ban đầu đã xác tín này dựa trên nền tảng. cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Đức KyTô đã chiến thắng tử thần.
Thánh Phaolô quả quyết: “Chính sự sống lại của Đức KyTô bảo đảm cho sự sống lại của các tín hữu” cuộc tử nạn của Chúa KyTô, nghĩa là cái chết của Ngài không phải của một thân xác thần thiêng nhưng cái chết ấy là của thân xác làm người của Ngài, một thân xác con người hoàn toàn như chúng ta, như thế sự sống lại vinh hiển là từ cái chết của thân xác làm người của Ngài. Ngài là Thiên Chúa mặc lấy thân phận con người hư nát nhưng Ngài đã phục sinh, mở cho chúng ta một sự sống mới, sự sống phục sinh của Người.
- Đến lượt chúng ta, những người nhờ bí tích Rửa tội đã trở nên chi thể trong thân mình Đức KyTô, dẫu cái chết làm cho thân xác ta hư nát, nhưng ngày sau sẽ được sống lại bởi thân xác Đức KyTô đã sống lại.
Tin vào Đức KyTô tử nạn phục sinh chính là niềm tin nền tảng của KyTô hữu mà chỉ ai trung thành với niềm tin ấy mới được sống lại nơi Đức KyTô.
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại mà các trào lưu vô thần đang tràn lan, các bè phái lạc giáo đang lôi kéo chúng ta, cộng với sự cám dỗ liên tục của cuộc sống hưởng thụ văn minh vật chất khoái lạc, đã lắm phen làm đức tin chúng ta chao đảo, và có không ít người vì thế mà đánh mất đức tin, thiết nghĩ khi chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, và cho chúng ta ý thức được thân phận con người yếu đuối mỏng giòn, để cầu xin Thiên Chúa cho chúng ta được ơn đức tin vững vàng, lòng mến sắt son; hầu có thể như các bậc tổ tiên sống trung thành với Chúa cho đến cùng.
Lạy Chúa KyTô phục sinh, xin nhậm lời khẩn nguyện của con Chúa đây mà tha phạt cho các tín hữu đã qua đời, cho họ được hạnh phúc trên Thiên quốc với Chúa. Xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con, hầu chúng con vượt thắng được thế gian đầy cám dỗ tư bề này mà sống trung thành với niềm tin cho đến hết cuộc đời lữ thứ trần gian.

Một Suy Nghĩ - Một Đời Người

- Con người ở mọi nơi, qua mọi thời đại luôn băn khoăn, thắc mắc và dường như bị nung nấu, nghiền nát, suy nghĩ bởi những ưu tư căn bản về cuộc đời mình
- Con người bởi đâu mà đến?
- Sống để làm gì? Chết rồi sẽ ra sao?
- Thời gian đã đi qua là như thu hẹp, rút ngắn và khép đóng thời gian lại và đồng thời để kéo dài và mở rộng cánh cửa đời ra để cho đoàn người nhân loại tiến sâu vào cõi trường sinh vĩnh cửu, để tận hưởng nguồn yêu thương vô biên mà Thiên Chúa đã tàng trữ, dấu kín nơi cung lòng Ngài từ muôn thuở. Như lời Thánh Phaolô quả quyết “Ngay từ nguyên thủy mầu nhiệm tình thương này đã được dấu kín nơi Thiên Chúa. Để rồi sẽ được thực hiện tỏ ra và ban phát khi thời gian đến thời viên mãn.
Đời con người cần suy nghĩ, để sống đời sống thật với Lời Chúa dạy: Hãy sống cho Chúa, vì Chúa.

Bài: Micae Lân.


Suy nghĩ về tháng 11

Suy nghĩ về tháng 11


Phúc âm: Gioan 17, 24-26
Tháng 11 dành riêng để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên; thân nhân; ân nhân; thân bằng quyến thuộc đã qua đời.
Như chúng ta đã biết, việc cầu nguyện cho những người đã qua đời, là truyền thống của KyTô giáo, bắt nguồn cách tự nhiên trong giáo thuyết của Thánh Phaolô và sự thông hiệp anh em với nhau trong thân mình của Đức KyTô. Trong thư gởi giáo đoàn Rôma (12,5) Thánh Phaolô nói: “Như trong thân xác tự nhiên, hoạt động của một bộ phận đều đem lại lợi ích cho toàn thân, cũng như vậy như thế trong thân mình thiêng liêng là Giáo hội và bởi vì mọi tín hữu chỉ làm nên một thân mình, thì điều tốt lành cho một chi thể sẽ thông qua chi thể khác, mà như đã biết Giáo hội gồm trên Thiên quốc; Giáo hội đang lữ hành trần thế và anh chị em nơi luyện tội, những người đang phải trải qua thanh luyện để xứng đáng vào Vương quốc của Thiên Chúa.

Điều làm chúng ta tin tưởng trong lời cầu xin, là khi chúng ta họp nhau cầu nguyện, thì có sự bảo đảm của Đức KyTô Phục Sinh, chính Ngài đang hiện diện giữa chúng ta, bởi là đầu của thân mình, nên không chỉ riêng chúng ta là Giáo hội trần gian dâng lời cầu nguyện, mà chúng ta đang hiện diện dâng cùng các Triều Thần Thánh trên Trời dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Chúa Kytô đang hiện diện nơi đây, Ngài muốn cho tất cả thuộc về Ngài, thuộc về Vương quốc Ngài, chính Ngài cầu xin cùng Chúa Cha “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho con thì con muốn rằng, con ở đâu thì chúng cũng ở đó với con”. Chúa Giêsu ở đâu thì chúng ta cũng được ở đó với Người.
Có một điều kỳ lạ trong những điều kỳ lạ của KyTô giáo, mà duy chỉ đức tin chúng ta mới có thể vượt qua được: đó là khi đứng bên nấm mồ đơn sơ như một ụ đất nhỏ hay nguy nga lộng lẫy bằng đá cẩm thạch với những nét hoa văn độc đáo cổ xưa hay tân thời, cũng không che dấu được sự thật hiển nhiên bên trong: Thân xác thối rữa nằm đó đang dần trở về bụi đất. thế nên khi nghe chúng ta tuyên tín “Xác loài người ngày sau sống lại”. Đối với những người không có niềm tin thì thật là nực cười. Thế nhưng chính niềm tin KyTô giáo từ ban đầu đã xác tín này dựa trên nền tảng. cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Đức KyTô đã chiến thắng tử thần.
Thánh Phaolô quả quyết: “Chính sự sống lại của Đức KyTô bảo đảm cho sự sống lại của các tín hữu” cuộc tử nạn của Chúa KyTô, nghĩa là cái chết của Ngài không phải của một thân xác thần thiêng nhưng cái chết ấy là của thân xác làm người của Ngài, một thân xác con người hoàn toàn như chúng ta, như thế sự sống lại vinh hiển là từ cái chết của thân xác làm người của Ngài. Ngài là Thiên Chúa mặc lấy thân phận con người hư nát nhưng Ngài đã phục sinh, mở cho chúng ta một sự sống mới, sự sống phục sinh của Người.
- Đến lượt chúng ta, những người nhờ bí tích Rửa tội đã trở nên chi thể trong thân mình Đức KyTô, dẫu cái chết làm cho thân xác ta hư nát, nhưng ngày sau sẽ được sống lại bởi thân xác Đức KyTô đã sống lại.
Tin vào Đức KyTô tử nạn phục sinh chính là niềm tin nền tảng của KyTô hữu mà chỉ ai trung thành với niềm tin ấy mới được sống lại nơi Đức KyTô.
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại mà các trào lưu vô thần đang tràn lan, các bè phái lạc giáo đang lôi kéo chúng ta, cộng với sự cám dỗ liên tục của cuộc sống hưởng thụ văn minh vật chất khoái lạc, đã lắm phen làm đức tin chúng ta chao đảo, và có không ít người vì thế mà đánh mất đức tin, thiết nghĩ khi chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, và cho chúng ta ý thức được thân phận con người yếu đuối mỏng giòn, để cầu xin Thiên Chúa cho chúng ta được ơn đức tin vững vàng, lòng mến sắt son; hầu có thể như các bậc tổ tiên sống trung thành với Chúa cho đến cùng.
Lạy Chúa KyTô phục sinh, xin nhậm lời khẩn nguyện của con Chúa đây mà tha phạt cho các tín hữu đã qua đời, cho họ được hạnh phúc trên Thiên quốc với Chúa. Xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con, hầu chúng con vượt thắng được thế gian đầy cám dỗ tư bề này mà sống trung thành với niềm tin cho đến hết cuộc đời lữ thứ trần gian.

Một Suy Nghĩ - Một Đời Người

- Con người ở mọi nơi, qua mọi thời đại luôn băn khoăn, thắc mắc và dường như bị nung nấu, nghiền nát, suy nghĩ bởi những ưu tư căn bản về cuộc đời mình
- Con người bởi đâu mà đến?
- Sống để làm gì? Chết rồi sẽ ra sao?
- Thời gian đã đi qua là như thu hẹp, rút ngắn và khép đóng thời gian lại và đồng thời để kéo dài và mở rộng cánh cửa đời ra để cho đoàn người nhân loại tiến sâu vào cõi trường sinh vĩnh cửu, để tận hưởng nguồn yêu thương vô biên mà Thiên Chúa đã tàng trữ, dấu kín nơi cung lòng Ngài từ muôn thuở. Như lời Thánh Phaolô quả quyết “Ngay từ nguyên thủy mầu nhiệm tình thương này đã được dấu kín nơi Thiên Chúa. Để rồi sẽ được thực hiện tỏ ra và ban phát khi thời gian đến thời viên mãn.
Đời con người cần suy nghĩ, để sống đời sống thật với Lời Chúa dạy: Hãy sống cho Chúa, vì Chúa.

Bài: Micae Lân.


Đọc thêm..
Ngày hôm qua, tôi tháp tùng đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, tham dự lễ khai giảng năm học mới của sinh viên Công giáo tại thành phố Vinh. Đó là một ngày Chúa nhật đẹp trời, khác hẳn với mấy ngày mưa tầm tã trước đó, và ngày mai được dự báo là có cơn bão số 10 nhắm vào miền Trung.

Số lượng sinh viên tham dự khoảng 800 em. Các bạn trẻ thật vui tươi, năng động và xinh đẹp, không giống như thời sinh viên của chúng tôi 30 năm về trước.

Trong bài giảng của đức giám mục giáo phận Vinh, có hai điều đáng nhớ.

Thứ nhất, tỉ lệ nói dối trong sinh viên khá cao. Một cuộc điều tra xã hội học mới đây cho thấy tỉ lệ nối dối cha mẹ ở học sinh cấp 1 là 22%, cấp 2 là 50%, cấp 3 là 64% và sinh viên là 80%. Đó là kết quả nghiên cứu của giáo sư Trần Ngọc Thêm, giám đốc Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà vị giám mục này đã từng dạy học.

Đức cha Phaolô nói thêm: "Tỉ lệ nói dối hậu học đường có thể là 90%. Thậm chí, nhiều lúc người ta còn chủ trương rằng cứ nói dối, cứ nói dối,… cuối cùng vẫn còn lại cái gì."

Thứ hai, sinh viên với cuộc đời một nửa: ăn nửa bữa, ngủ nửa đêm và tình yêu một nửa.
“Thời sinh viên cái thời một nửa
Sách nửa trang, sự nghiệp nửa đường
Đêm ngủ nửa giấc, mơ còn bỏ ngỏ
Nhìn lại mình nửa lạ nửa quen
Nửa tách càfé còn chìm trong bản nhạc
Nửa học kỳ đã thấp thỏm mùa thi
Còn bao nhiêu nửa trọn tràng cười
Yêu một mình là một nửa tình yêu
Ai cho tôi tình yêu một nửa.”
Tôi thấy các bạn trẻ cười phấn chấn sau khi nghe bài thơ này. Riêng tôi hơi ngỡ ngàng khi đức cha nói về “tình yêu một nửa”. Phải chăng vì tình yêu thời sinh viên chưa trọn vẹn? ‘Tình yêu một nửa’, theo tôi, cũng là dối trá.

Thực tế, sự dối trá bên ngoài học đường còn nhiều hơn. Có một bạn trẻ, xin giấu tên, xác nhận với tôi rằng: “Sau đại học thì gian dối trùm luôn. Con đi thi sau đại học mà không thể tưởng tượng được. Tài liệu, phao thi đầy ngăn bàn. Chuyện đó rơi vào những cán bộ hoặc giáo viên đã có thâm niên đứng lớp từ 6 năm trở lên”.

Tôi nhớ đến câu nói của một nhân vật trong một tác phẩm của văn hào Shakespeare: “Hãy dùng cái mồi giả dối để câu lấy con cá chân lý”. Nhiều người áp dụng câu nói này; nhưng cuối cùng họ không bắt được ‘con cá chân lý’.

Tôi cảm thấy hệ lụy của việc nói dối thật ghê gớm. Bây giờ không ai tin ai. Vợ chồng không tin nhau. Bạn bè không tin nhau. Người người không tin nhau. Một cuộc đời không còn niềm tin là một cuộc đời bất hạnh.

Quả thật, có một cuộc khủng hoảng về sự tín nhiệm mà người Việt chúng ta đang phải đương đầu. Muốn giải quyết cuộc khủng hoảng này có thể phải mất thời gian bằng một đời người.

Xin các bạn sinh viên đừng buồn với tiêu đề của bài này, khi thấy tôi liên hệ giữa sinh viên và nói dối. Lý do là vì câu chuyện này gặp được trong bối cảnh của buổi lễ khai giảng năm học mới.

Và tôi nghĩ đã đến lúc các bạn sinh viên cần giải quyết cuộc khủng hoảng này, để đến khi cuối đời, các bạn sẽ hưởng được hoa trái là sự tín nhiệm lẫn nhau.

Chúng ta không thể sống một nửa đời rồi thôi, nhưng mỗi người được ban tặng cả một cuộc đời. "Người ta có thể ăn nửa bữa, có thể ngủ nửa đêm; nhưng không thể yêu bằng nửa con tim và không thể đi nửa đường chân lý".



Linh mục Phạm Quang Long

Sinh viên, nói dối và 'tình yêu một nửa'

Ngày hôm qua, tôi tháp tùng đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, tham dự lễ khai giảng năm học mới của sinh viên Công giáo tại thành phố Vinh. Đó là một ngày Chúa nhật đẹp trời, khác hẳn với mấy ngày mưa tầm tã trước đó, và ngày mai được dự báo là có cơn bão số 10 nhắm vào miền Trung.

Số lượng sinh viên tham dự khoảng 800 em. Các bạn trẻ thật vui tươi, năng động và xinh đẹp, không giống như thời sinh viên của chúng tôi 30 năm về trước.

Trong bài giảng của đức giám mục giáo phận Vinh, có hai điều đáng nhớ.

Thứ nhất, tỉ lệ nói dối trong sinh viên khá cao. Một cuộc điều tra xã hội học mới đây cho thấy tỉ lệ nối dối cha mẹ ở học sinh cấp 1 là 22%, cấp 2 là 50%, cấp 3 là 64% và sinh viên là 80%. Đó là kết quả nghiên cứu của giáo sư Trần Ngọc Thêm, giám đốc Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà vị giám mục này đã từng dạy học.

Đức cha Phaolô nói thêm: "Tỉ lệ nói dối hậu học đường có thể là 90%. Thậm chí, nhiều lúc người ta còn chủ trương rằng cứ nói dối, cứ nói dối,… cuối cùng vẫn còn lại cái gì."

Thứ hai, sinh viên với cuộc đời một nửa: ăn nửa bữa, ngủ nửa đêm và tình yêu một nửa.
“Thời sinh viên cái thời một nửa
Sách nửa trang, sự nghiệp nửa đường
Đêm ngủ nửa giấc, mơ còn bỏ ngỏ
Nhìn lại mình nửa lạ nửa quen
Nửa tách càfé còn chìm trong bản nhạc
Nửa học kỳ đã thấp thỏm mùa thi
Còn bao nhiêu nửa trọn tràng cười
Yêu một mình là một nửa tình yêu
Ai cho tôi tình yêu một nửa.”
Tôi thấy các bạn trẻ cười phấn chấn sau khi nghe bài thơ này. Riêng tôi hơi ngỡ ngàng khi đức cha nói về “tình yêu một nửa”. Phải chăng vì tình yêu thời sinh viên chưa trọn vẹn? ‘Tình yêu một nửa’, theo tôi, cũng là dối trá.

Thực tế, sự dối trá bên ngoài học đường còn nhiều hơn. Có một bạn trẻ, xin giấu tên, xác nhận với tôi rằng: “Sau đại học thì gian dối trùm luôn. Con đi thi sau đại học mà không thể tưởng tượng được. Tài liệu, phao thi đầy ngăn bàn. Chuyện đó rơi vào những cán bộ hoặc giáo viên đã có thâm niên đứng lớp từ 6 năm trở lên”.

Tôi nhớ đến câu nói của một nhân vật trong một tác phẩm của văn hào Shakespeare: “Hãy dùng cái mồi giả dối để câu lấy con cá chân lý”. Nhiều người áp dụng câu nói này; nhưng cuối cùng họ không bắt được ‘con cá chân lý’.

Tôi cảm thấy hệ lụy của việc nói dối thật ghê gớm. Bây giờ không ai tin ai. Vợ chồng không tin nhau. Bạn bè không tin nhau. Người người không tin nhau. Một cuộc đời không còn niềm tin là một cuộc đời bất hạnh.

Quả thật, có một cuộc khủng hoảng về sự tín nhiệm mà người Việt chúng ta đang phải đương đầu. Muốn giải quyết cuộc khủng hoảng này có thể phải mất thời gian bằng một đời người.

Xin các bạn sinh viên đừng buồn với tiêu đề của bài này, khi thấy tôi liên hệ giữa sinh viên và nói dối. Lý do là vì câu chuyện này gặp được trong bối cảnh của buổi lễ khai giảng năm học mới.

Và tôi nghĩ đã đến lúc các bạn sinh viên cần giải quyết cuộc khủng hoảng này, để đến khi cuối đời, các bạn sẽ hưởng được hoa trái là sự tín nhiệm lẫn nhau.

Chúng ta không thể sống một nửa đời rồi thôi, nhưng mỗi người được ban tặng cả một cuộc đời. "Người ta có thể ăn nửa bữa, có thể ngủ nửa đêm; nhưng không thể yêu bằng nửa con tim và không thể đi nửa đường chân lý".



Linh mục Phạm Quang Long

Đọc thêm..
Lm Nguyễn Hồng Giáo, Dòng Phanxicô
Chưa có vị Giáo Hoàng nào đã phong thánh nhiều như Ðức Gioan-Phaolô II. Người ta không khỏi thắc mắc tại sao?

Trước hết cần lưu ý rằng so với vô vàn vô số các thánh trên trời, thì những người được Giáo Hội tuyên phong á thánh (chân phước) và hiển thánh chỉ là con số hoàn toàn không đáng kể. Một điều khác nên biết, là việc phong thánh cho ai là cả một thủ tục khó khăn, phức tạp, không thể tùy thuộc vào ý muốn riêng của một giáo hoàng. Vào những thế kỷ đầu của Giáo Hội, sáng kiến "phong thánh" phát sinh từ quần chúng tín đồ, chính họ đồng thanh suy tôn những người mà đời sống thánh thiện và ảnh hưởng tinh thần là hiển nhiên đối với họ. Về sau, để tránh những lạm dụng, việc phong thánh được dành riêng cho các Giám mục; rồi đến thế kỷ XII, Ðức Giáo Hoàng Alexandre III quyết định quyền ấy thuộc về một mình Giáo Hoàng mà thôi. Qua thế kỷ sau, Ðức Innocent III mới đưa ra những qui định rõ ràng về thủ tục phải theo. Năm 1965, Ðức Phaolô VI thành lập Bộ Phong thánh để làm công việc mà trước đó được giao cho Bộ Nghi lễ.

Thủ tục phong thánh mang hình thức giống một vụ xử án: có những người thu thập hồ sơ, tài liệu; có những nhà thần học, những sử gia và những chuyên viên khác để nghiên cứu; có những nhân chứng và cả luật sư nữa. Vị này được gọi là Chưởng tín (Promoter of the Faith), cóù nhiệm vụ điều tra thật kỹ lưỡng để tránh sơ sót về đức hạnh hay phép lạ, và cả về những gì có thể bất lợi cho "ứng viên" phong thánh nữa. Vì thế, vị chưởng tín thường được gọi là "trạng sư của ma quỉ" (advocatus diaboli) vì có vẻ như đứng về phe ma quỉ chống lại "ứng viên" đang được điều tra.

Thủ tục phong chân phước và hiển thánh đòi hỏi phải có một, hai phép lạ được chứng thực như thế bởi những nhà chuyên môn (chứ không dễ dàng như quần chúng tín đồ thường kháo láo với nhau đâu!), trừ trường hợp chết vì đạo, bởi vì tử đạo luôn luôn được coi là bằng chứng tối cao của đức tin; chỉ nguyên việc chịu hy sinh tính mạng vì Chúa đã đủ làm cho người ta trở thành gương mẫu, cho dù cuộc đời trước đó của họ như thế nào đi nữa. Một vị thánh không phải đương nhiên là hoàn hảo về mọi mặt.

Giáo Hội phong thánh để làm gì? Chúng ta đọc trong Kinh Tiền tụng lễ các thánh như sau:

Vinh quang Cha rạng ngời nơi cộng đoàn các thánh. Và khi tuyên dương công trạng các ngài là Cha biểu dương chính hồng ân Cha ban. Cha dùng đời sống các ngài làm gương cho chúng con học đòi, bắt chước; Cha cho chúng con được chung phần gia nghiệp nhờ hiệp thông với các ngài; Cha phù trợ chúng con nhờ lời các ngài cầu thay nguyện giúp.

Như thế việc tuyên phong các thánh có mục đích:
  • Tôn vinh thiên Chúa: nếu các thánh là "thánh thiện", "quyền năng" v.v. thì Thiên Chúa càng quyền năng thánh thiện hơn biết chừng nào! Ðời sống các ngài phản ánh đời sống của chính Chúa, cho dù chỉ là một cách mờ nhạt.
  • Nêu gương mẫu mực cho người Kitô hữu.
  • Củng cố niềm hy vọng của chúng ta. Nếu các thánh là những con người cũng đầu đen, máu đỏ như ta và cũng yếu đuối như bất cứ ai, nhưng nhờ biết cộng tác với ơn Chúa mà đã được hưởng một gia nghiệp vinh quang như thế, thì tại sao ta lại không thể được?
  • Ðể các thánh cầu bầu cho ta trước mặt Chúa,và chắc chắn lời cầu bầu đó là rất hiệu nghiệm.
Bây giờ chúng ta trở lại với thắc mắc đã nêu lên: tại sao Ðức Gioan-Phaolô phong thánh nhiều như thế? Thật sự, tôi làm sao mà trả lời được? Tôi chỉ thử đưa ra vài suy đoán. Trước hết, cho dù người ta có thể nhìn và đánh giá một cuộc phong thánh theo những quan điểm khác nhau, thì tôi vẫn chắc chắn rằng một việc thánh thiêng như thế không thể nào bị Giáo Hội dùng như phương tiện cho một ý đồ trần tục, xấu xa được. Nhưng xác tín này của tôi không cấm tôi nghĩ rằng Giáo Hội sống trong những hoàn cảnh cụ thể, và Ðức Giáo Hoàng hành động với tất cả con người của mình, với cá tính độc đáo của mình. Ðó là qui luật "nhập thể".

Người ta nhận định rằng các hành động của Ðức Gioan-Phaolô thường mang đậm tính cách Balan. Phải chăng điều đó cũng đúng cho việc phong thánh mà người tiến hành hàng loạt từ khi lên ngôi? Ở Ba-Lan, tỉ lệ người công giáo rất cao, và ảnh hưởng của Giáo Hội trên xã hội có lẽ cũng mạnh hơn bất cứ nơi nào khác tại Châu Âu. Ngay cả dưới thời Cộng sản, hình như đời sống đạo của họ vẫn rất hiên ngang và vẫn giữ được tính cách quần chúng. Có thể nói đức đương kim Giáo Hoàng thích nhấn mạnh khía cạnh quần chúng và cổ truyền trong đời sống Giáo Hội.

Tôi cũng nghĩ rằng trong lúc Giáo Hội bị "lép vế" (xin tạm nói như vậy) trong một thế giới trần tục hoá, thì việc phong thánh "ồ ạt" có thể là một cách tự khẳng định mình. Việc này còn là một sự động viên to lớn cho người Công giáo để họ can đảm và hiên ngang sống đạo trong thời đại mà họ đang bị mời mọc bởi không biết bao nhiêu thứ tôn giáo và linh hạnh (spirituality) khác nhau.

Như thế, việc phong thánh hiện nay phản ánh một nỗi lo lắng của Giáo Hội. Không những thế, mà hơn nữa, trong một số trường hợp, nó còn phản ánh tình trạng dằng co "của thế giới Công giáo hiện tại, giữa một đàng là nỗi luyến tiếc một trật tự cũ và đàng kia là ý muốn thích nghi với Hiện đại". Ðó là ý kiến của nhà báo Jean-Paul Guetny trong bài xã luận "Những vị thánh có vấn đề" của báo Thời sự các tôn giáo (số 19, tháng 9, 2000). Bằng chứng cho sự dằng co là việc Ðức Thánh Cha phong một loạt những vị thánh rất hiện đại đồng thời với những vị rất xa thời đại,(-xa không phải chỉ có ý nghĩa thời gian), và thậm chí ngược thời đại, tiêu biểu là Ðức Gioan XIII, vị Giáo Hoàng cởi mở của Công đồng Vatican II mà ai cũng yêu mến, và Ðức Piô IX, làmột chủ chăn bị coi là rất bảo thủ, hầu như không đếm xỉa gì đến các khát vọng của thời đại mình. Cả hai vị chủ chăn này vừa được phong chân phước cùng một ngày.

Ý kiến của Jean-Paul Guetny cũng chỉ là một sự phân tích có thể là chủ quan, song điều khá rõ đối với tôi là Ðức Thánh Cha ít quan tâm tới một gợi ý được nói nhiều vào thời Công Ðồng, đó là Giáo Hội thời nay chỉ nên phong thánh cho những người mà đời sống gần gũi hơn và do đó có thể dễ dàng làm mẫu mực hơn cho con người thời đại. Xin kết thúc với lời của Hồng Y Martini: "Ngày nay, điều quan trọng nhất không phải là có một sự thánh thiện ưu tú, giới hạn vào việc tuyên phong một vài nhân vật hoặc phong trào. Chúng ta cần một sự thánh thiện tỏa lan bàng bạc. Trong các cuộc thăm viếng mục vụ, tôi gặp thấy đông đảo những người đơn sơ, không thuộc một phong trào nào cả, nhưng sống trong Hội Thánh một cuộc đời thánh thiện, nếu không anh hùng thì ít ra cũng với một cường lực luân lý to lớn. Một Giáo Hội địa phương cần phải nổi bật trước tiên nhờ khả năng khơi dậy chung quanh vị giám mục, một mùa hoa những cuộc đời thánh thiện bình dân".

Ghi chú: Việc Phong Thánh được hoàn tất trong ba giai đoạn. 
Một ứng viên được tuyên bố là "Bậc Ðáng Kính" khi tiến trình được giáo quyền giáo phận chấp thuận, 
là "Chân Phước" khi Ðức Giáo Hoàng chính thức công nhận các nhân đức trổi vượt hoặc sự tử vì đạo của bậc đáng kính, 
và là "Hiển Thánh" khi có thêm dấu chỉ chứng tỏ rằng Chúa ban nhiều ơn qua vị Chân Phước.

PHONG THÁNH

Lm Nguyễn Hồng Giáo, Dòng Phanxicô
Chưa có vị Giáo Hoàng nào đã phong thánh nhiều như Ðức Gioan-Phaolô II. Người ta không khỏi thắc mắc tại sao?

Trước hết cần lưu ý rằng so với vô vàn vô số các thánh trên trời, thì những người được Giáo Hội tuyên phong á thánh (chân phước) và hiển thánh chỉ là con số hoàn toàn không đáng kể. Một điều khác nên biết, là việc phong thánh cho ai là cả một thủ tục khó khăn, phức tạp, không thể tùy thuộc vào ý muốn riêng của một giáo hoàng. Vào những thế kỷ đầu của Giáo Hội, sáng kiến "phong thánh" phát sinh từ quần chúng tín đồ, chính họ đồng thanh suy tôn những người mà đời sống thánh thiện và ảnh hưởng tinh thần là hiển nhiên đối với họ. Về sau, để tránh những lạm dụng, việc phong thánh được dành riêng cho các Giám mục; rồi đến thế kỷ XII, Ðức Giáo Hoàng Alexandre III quyết định quyền ấy thuộc về một mình Giáo Hoàng mà thôi. Qua thế kỷ sau, Ðức Innocent III mới đưa ra những qui định rõ ràng về thủ tục phải theo. Năm 1965, Ðức Phaolô VI thành lập Bộ Phong thánh để làm công việc mà trước đó được giao cho Bộ Nghi lễ.

Thủ tục phong thánh mang hình thức giống một vụ xử án: có những người thu thập hồ sơ, tài liệu; có những nhà thần học, những sử gia và những chuyên viên khác để nghiên cứu; có những nhân chứng và cả luật sư nữa. Vị này được gọi là Chưởng tín (Promoter of the Faith), cóù nhiệm vụ điều tra thật kỹ lưỡng để tránh sơ sót về đức hạnh hay phép lạ, và cả về những gì có thể bất lợi cho "ứng viên" phong thánh nữa. Vì thế, vị chưởng tín thường được gọi là "trạng sư của ma quỉ" (advocatus diaboli) vì có vẻ như đứng về phe ma quỉ chống lại "ứng viên" đang được điều tra.

Thủ tục phong chân phước và hiển thánh đòi hỏi phải có một, hai phép lạ được chứng thực như thế bởi những nhà chuyên môn (chứ không dễ dàng như quần chúng tín đồ thường kháo láo với nhau đâu!), trừ trường hợp chết vì đạo, bởi vì tử đạo luôn luôn được coi là bằng chứng tối cao của đức tin; chỉ nguyên việc chịu hy sinh tính mạng vì Chúa đã đủ làm cho người ta trở thành gương mẫu, cho dù cuộc đời trước đó của họ như thế nào đi nữa. Một vị thánh không phải đương nhiên là hoàn hảo về mọi mặt.

Giáo Hội phong thánh để làm gì? Chúng ta đọc trong Kinh Tiền tụng lễ các thánh như sau:

Vinh quang Cha rạng ngời nơi cộng đoàn các thánh. Và khi tuyên dương công trạng các ngài là Cha biểu dương chính hồng ân Cha ban. Cha dùng đời sống các ngài làm gương cho chúng con học đòi, bắt chước; Cha cho chúng con được chung phần gia nghiệp nhờ hiệp thông với các ngài; Cha phù trợ chúng con nhờ lời các ngài cầu thay nguyện giúp.

Như thế việc tuyên phong các thánh có mục đích:
  • Tôn vinh thiên Chúa: nếu các thánh là "thánh thiện", "quyền năng" v.v. thì Thiên Chúa càng quyền năng thánh thiện hơn biết chừng nào! Ðời sống các ngài phản ánh đời sống của chính Chúa, cho dù chỉ là một cách mờ nhạt.
  • Nêu gương mẫu mực cho người Kitô hữu.
  • Củng cố niềm hy vọng của chúng ta. Nếu các thánh là những con người cũng đầu đen, máu đỏ như ta và cũng yếu đuối như bất cứ ai, nhưng nhờ biết cộng tác với ơn Chúa mà đã được hưởng một gia nghiệp vinh quang như thế, thì tại sao ta lại không thể được?
  • Ðể các thánh cầu bầu cho ta trước mặt Chúa,và chắc chắn lời cầu bầu đó là rất hiệu nghiệm.
Bây giờ chúng ta trở lại với thắc mắc đã nêu lên: tại sao Ðức Gioan-Phaolô phong thánh nhiều như thế? Thật sự, tôi làm sao mà trả lời được? Tôi chỉ thử đưa ra vài suy đoán. Trước hết, cho dù người ta có thể nhìn và đánh giá một cuộc phong thánh theo những quan điểm khác nhau, thì tôi vẫn chắc chắn rằng một việc thánh thiêng như thế không thể nào bị Giáo Hội dùng như phương tiện cho một ý đồ trần tục, xấu xa được. Nhưng xác tín này của tôi không cấm tôi nghĩ rằng Giáo Hội sống trong những hoàn cảnh cụ thể, và Ðức Giáo Hoàng hành động với tất cả con người của mình, với cá tính độc đáo của mình. Ðó là qui luật "nhập thể".

Người ta nhận định rằng các hành động của Ðức Gioan-Phaolô thường mang đậm tính cách Balan. Phải chăng điều đó cũng đúng cho việc phong thánh mà người tiến hành hàng loạt từ khi lên ngôi? Ở Ba-Lan, tỉ lệ người công giáo rất cao, và ảnh hưởng của Giáo Hội trên xã hội có lẽ cũng mạnh hơn bất cứ nơi nào khác tại Châu Âu. Ngay cả dưới thời Cộng sản, hình như đời sống đạo của họ vẫn rất hiên ngang và vẫn giữ được tính cách quần chúng. Có thể nói đức đương kim Giáo Hoàng thích nhấn mạnh khía cạnh quần chúng và cổ truyền trong đời sống Giáo Hội.

Tôi cũng nghĩ rằng trong lúc Giáo Hội bị "lép vế" (xin tạm nói như vậy) trong một thế giới trần tục hoá, thì việc phong thánh "ồ ạt" có thể là một cách tự khẳng định mình. Việc này còn là một sự động viên to lớn cho người Công giáo để họ can đảm và hiên ngang sống đạo trong thời đại mà họ đang bị mời mọc bởi không biết bao nhiêu thứ tôn giáo và linh hạnh (spirituality) khác nhau.

Như thế, việc phong thánh hiện nay phản ánh một nỗi lo lắng của Giáo Hội. Không những thế, mà hơn nữa, trong một số trường hợp, nó còn phản ánh tình trạng dằng co "của thế giới Công giáo hiện tại, giữa một đàng là nỗi luyến tiếc một trật tự cũ và đàng kia là ý muốn thích nghi với Hiện đại". Ðó là ý kiến của nhà báo Jean-Paul Guetny trong bài xã luận "Những vị thánh có vấn đề" của báo Thời sự các tôn giáo (số 19, tháng 9, 2000). Bằng chứng cho sự dằng co là việc Ðức Thánh Cha phong một loạt những vị thánh rất hiện đại đồng thời với những vị rất xa thời đại,(-xa không phải chỉ có ý nghĩa thời gian), và thậm chí ngược thời đại, tiêu biểu là Ðức Gioan XIII, vị Giáo Hoàng cởi mở của Công đồng Vatican II mà ai cũng yêu mến, và Ðức Piô IX, làmột chủ chăn bị coi là rất bảo thủ, hầu như không đếm xỉa gì đến các khát vọng của thời đại mình. Cả hai vị chủ chăn này vừa được phong chân phước cùng một ngày.

Ý kiến của Jean-Paul Guetny cũng chỉ là một sự phân tích có thể là chủ quan, song điều khá rõ đối với tôi là Ðức Thánh Cha ít quan tâm tới một gợi ý được nói nhiều vào thời Công Ðồng, đó là Giáo Hội thời nay chỉ nên phong thánh cho những người mà đời sống gần gũi hơn và do đó có thể dễ dàng làm mẫu mực hơn cho con người thời đại. Xin kết thúc với lời của Hồng Y Martini: "Ngày nay, điều quan trọng nhất không phải là có một sự thánh thiện ưu tú, giới hạn vào việc tuyên phong một vài nhân vật hoặc phong trào. Chúng ta cần một sự thánh thiện tỏa lan bàng bạc. Trong các cuộc thăm viếng mục vụ, tôi gặp thấy đông đảo những người đơn sơ, không thuộc một phong trào nào cả, nhưng sống trong Hội Thánh một cuộc đời thánh thiện, nếu không anh hùng thì ít ra cũng với một cường lực luân lý to lớn. Một Giáo Hội địa phương cần phải nổi bật trước tiên nhờ khả năng khơi dậy chung quanh vị giám mục, một mùa hoa những cuộc đời thánh thiện bình dân".

Ghi chú: Việc Phong Thánh được hoàn tất trong ba giai đoạn. 
Một ứng viên được tuyên bố là "Bậc Ðáng Kính" khi tiến trình được giáo quyền giáo phận chấp thuận, 
là "Chân Phước" khi Ðức Giáo Hoàng chính thức công nhận các nhân đức trổi vượt hoặc sự tử vì đạo của bậc đáng kính, 
và là "Hiển Thánh" khi có thêm dấu chỉ chứng tỏ rằng Chúa ban nhiều ơn qua vị Chân Phước.
Đọc thêm..