«ƠN CỨU ĐỘ»


Bài đọc 1: Isaia 8, 23b-9,3
Bài đọc 2: 1 Corintô 1, 10-13.17
Tin Mừng: Matthêu 4, 12-23

«Dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm» (9, 1-2 – Bài đọc I).

Đoạn sách của Tiên tri Isaia mở đầu bằng những lời ca đầy phấn khởi, nối dài niềm hân hoan của mùa Giáng sinh vừa kết thúc. Tác giả viết: «cũng như thời đầu làm suy đốn đất Zabulon và Neptali, thì thời sau sẽ làm rạng rỡ vinh quang» (Is 8, 23b). Zabulon và Neptali là hai thành phố thuộc miền bắc Israel. Hai chi tộc này chiếm phần lớn miền Galilê, đã bị đế quốc Átsua thôn tính vào năm 734, và sau đó bị hy-hóa vào thời các triều vua dòng họ Sêlêukhô. Từ đó họ đã bị Dân Ngoại tràn ngập, vì thế mà đối với dân Do Thái, Galilêa trở thành vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội. Ngôn sứ Isaia (ch. 8 và 9) đã loan báo ngày giải phóng, thời Ðấng Cứu Thế sẽ đổi mới hẳn mặt đất này; trước sự suy đồi, mọi nơi sẽ biến đổi nên rạng ngời. Có điều Isaia không nói đến những thay đổi vật chất, mà ông trực tiếp đi vào cơ sở của hạnh phúc con người: Dân đi trong tối tăm sẽ nhìn thấy một ánh sáng lớn. Thiên hạ sẽ hân hoan như trong mùa gặt hái, như trong buổi thắng trận. Vì mọi ách nô lệ, mọi sức đàn áp sẽ bị đập tan.

Thật ra, Isaia chỉ biết gợi lên như thế, chứ ông chưa hiểu rồi Ðấng Cứu Thế sẽ làm thế nào. Chúng ta nhận ra những lời loan báo này vốn được dùng trong phụng vụ của lễ Vọng Giáng Sinh, và hôm nay còn được lặp lại trong những câu đầu của đoạn Tin Mừng Matthêu. Điều này giải thích rằng “ánh sáng rạng ngời” ấy ám chỉ đến Đức Kitô, và ơn cứu độ vì thế là ơn giải thoát, dẫn đưa con người đến bến bờ tự do, họ sẽ phấn khởi và sáng suốt xây dựng lại cuộc đời, khiến mặt đất trước kia suy đồi, sau này sẽ đổi mới nên đẹp hơn.

Riêng Matthêu, ông thấy chính Đức Giêsu sẽ là Đấng phải đến để giải thoát dân, không phải về phương diện chính trị quân sự, mà là về tôn giáo. Thánh Matthêu viết: «bấy giờ Chúa Giêsu bỏ thành Nagiarét, đến ở Caphacnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Zabulon và Neptali để làm trọn lời tiên tri Isaia: Này đất Zabulon và Neptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn song Giorđan, hỡi Galil, miền đất của dân ngoại. Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi» (cc. 13-16 – Bài Tin Mừng).

Như thế, “ánh sáng rạng ngời” mà ngôn sứ Isaia tiên báo nay đã được thánh sử Mathêu giải mã, đó chính là Đức Giêsu – là Đấng cứu thế, đến để giải thoát muôn người, không loại trừ ai, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, hay giai cấp chính trị và xã hội. Bởi lẽ, Galilê vốn là vùng đất của dân ngoại (c. 15), đối lại với Giuđê tinh tuyền về giống nòi. Vì thế, Galilê đã trở thành biểu tượng của cuộc quy tụ phổ quát: đây là Đất Hứa đang mở ra với Đức Giêsu, là Israel chân chính, sau khi Người đã ở trong hoang địa và vượt qua sông Giorđan để loan báo về ơn cứu độ mà thiên Chúa sẽ thực hiện.

Tuy nhiên, để đón nhận ơn cứu độ, điều kiện cần là phải sám hối, và điều kiện đủ là phải tin vào Tin Mừng. Sám hối là quay đầu trở lại, là tìm về nẻo chính đường ngay, là nối lại giao ước với Thiên Chúa. Tin vào Tin Mừng là tin vào Đức Giêsu Ki tô, bởi lẽ theo truyền thống kinh thánh thời Tân ước, Tin Mừng không là gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô. Ngài chính là Tin Mừng vĩ đại mà các ngôn sứ đã loan báo cho dân qua bao thế hệ: «Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Ðấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa» (Dt 1, 1-3).

Sám hối để tin, sám hối để bước ra khỏi bóng tối mà nhìn lên ánh sáng. Ðức Kitô là ánh sáng muôn dân đến vùng đất suy đồi để chiếu soi bằng sự hiện diện của Người. Nhưng không phải tự nhiên mà người ta có thể nhận ra ánh sáng của Người, nhân loại mọi thời vẫn thích bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng của Tin mừng và dần dần đánh mất ý thức về tội. Vì thế mà tội lỗi vẫn tràn lan, con người tự làm khổ mình, làm khổ nhau bởi chính những điều gian ác, bất công của mình gây nên. Sám hối nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Bởi lẽ lý do của việc sám hối là vì «Nước Trời đã gần đến».

Một điều ta cần phân định ở đây là Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai bằng lời kêu gọi sám hối chứ không hề áp đặt. Điều đó cho thấy Người luôn tôn trọng sự tự do của mọi người, cũng như Thiên Chúa luôn chờ đợi sự ưng thuận của con người. Nhưng chính thái độ ưng thuận ấy lại đem đến ơn cứu độ. Như thế, Sám hối không chỉ là một tiếng khóc của thất vọng, mà phải là một sức bật mới giúp cho con người vươn lên: «Hãy sám hối vì nước trời đã gần đến». Sám hối là khởi điểm của cuộc hành trình đức tin Kitô giáo. Sám hối còn là chìa khoá để vào Nước Trời. Nước trời chính là động lực của lòng sám hối. Lòng sám hối đích thực là phải quyết tâm hướng về thực tại của nước trời và những thực tại đó chính là hòa bình, bác ái, yêu thương, quảng đại, cảm thông, tha thứ. Thể hiện lòng sám hối chính là thực thi những giá trị ấy. Hãy sám hối vì nước trời đã gần đến, hay đúng hơn hãy sám hối để cho nước trời được đến giữa mọi người, liên kết và hiệp nhất mọi người trong cùng một ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Thánh Phaolô, trong bài đọc II, nhấn mạnh đến khía cạnh hiệp nhất này trong Giáo hội. Đối với Phaolô, chỉ có lòng quyết tâm hoán cải và trở về cùng Chúa Kitô, mới là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Qua lời khuyến dụ các tín hữu thành Côrintô của thánh Phaolô, chúng ta cũng nhận biết rằng dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Người, vì chính Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta: «Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: “Tôi thuộc về Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?» (cc. 12-13).

Lm. Quốc Bảo

«ƠN CỨU ĐỘ»

«ƠN CỨU ĐỘ»


Bài đọc 1: Isaia 8, 23b-9,3
Bài đọc 2: 1 Corintô 1, 10-13.17
Tin Mừng: Matthêu 4, 12-23

«Dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm» (9, 1-2 – Bài đọc I).

Đoạn sách của Tiên tri Isaia mở đầu bằng những lời ca đầy phấn khởi, nối dài niềm hân hoan của mùa Giáng sinh vừa kết thúc. Tác giả viết: «cũng như thời đầu làm suy đốn đất Zabulon và Neptali, thì thời sau sẽ làm rạng rỡ vinh quang» (Is 8, 23b). Zabulon và Neptali là hai thành phố thuộc miền bắc Israel. Hai chi tộc này chiếm phần lớn miền Galilê, đã bị đế quốc Átsua thôn tính vào năm 734, và sau đó bị hy-hóa vào thời các triều vua dòng họ Sêlêukhô. Từ đó họ đã bị Dân Ngoại tràn ngập, vì thế mà đối với dân Do Thái, Galilêa trở thành vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội. Ngôn sứ Isaia (ch. 8 và 9) đã loan báo ngày giải phóng, thời Ðấng Cứu Thế sẽ đổi mới hẳn mặt đất này; trước sự suy đồi, mọi nơi sẽ biến đổi nên rạng ngời. Có điều Isaia không nói đến những thay đổi vật chất, mà ông trực tiếp đi vào cơ sở của hạnh phúc con người: Dân đi trong tối tăm sẽ nhìn thấy một ánh sáng lớn. Thiên hạ sẽ hân hoan như trong mùa gặt hái, như trong buổi thắng trận. Vì mọi ách nô lệ, mọi sức đàn áp sẽ bị đập tan.

Thật ra, Isaia chỉ biết gợi lên như thế, chứ ông chưa hiểu rồi Ðấng Cứu Thế sẽ làm thế nào. Chúng ta nhận ra những lời loan báo này vốn được dùng trong phụng vụ của lễ Vọng Giáng Sinh, và hôm nay còn được lặp lại trong những câu đầu của đoạn Tin Mừng Matthêu. Điều này giải thích rằng “ánh sáng rạng ngời” ấy ám chỉ đến Đức Kitô, và ơn cứu độ vì thế là ơn giải thoát, dẫn đưa con người đến bến bờ tự do, họ sẽ phấn khởi và sáng suốt xây dựng lại cuộc đời, khiến mặt đất trước kia suy đồi, sau này sẽ đổi mới nên đẹp hơn.

Riêng Matthêu, ông thấy chính Đức Giêsu sẽ là Đấng phải đến để giải thoát dân, không phải về phương diện chính trị quân sự, mà là về tôn giáo. Thánh Matthêu viết: «bấy giờ Chúa Giêsu bỏ thành Nagiarét, đến ở Caphacnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Zabulon và Neptali để làm trọn lời tiên tri Isaia: Này đất Zabulon và Neptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn song Giorđan, hỡi Galil, miền đất của dân ngoại. Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi» (cc. 13-16 – Bài Tin Mừng).

Như thế, “ánh sáng rạng ngời” mà ngôn sứ Isaia tiên báo nay đã được thánh sử Mathêu giải mã, đó chính là Đức Giêsu – là Đấng cứu thế, đến để giải thoát muôn người, không loại trừ ai, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, hay giai cấp chính trị và xã hội. Bởi lẽ, Galilê vốn là vùng đất của dân ngoại (c. 15), đối lại với Giuđê tinh tuyền về giống nòi. Vì thế, Galilê đã trở thành biểu tượng của cuộc quy tụ phổ quát: đây là Đất Hứa đang mở ra với Đức Giêsu, là Israel chân chính, sau khi Người đã ở trong hoang địa và vượt qua sông Giorđan để loan báo về ơn cứu độ mà thiên Chúa sẽ thực hiện.

Tuy nhiên, để đón nhận ơn cứu độ, điều kiện cần là phải sám hối, và điều kiện đủ là phải tin vào Tin Mừng. Sám hối là quay đầu trở lại, là tìm về nẻo chính đường ngay, là nối lại giao ước với Thiên Chúa. Tin vào Tin Mừng là tin vào Đức Giêsu Ki tô, bởi lẽ theo truyền thống kinh thánh thời Tân ước, Tin Mừng không là gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô. Ngài chính là Tin Mừng vĩ đại mà các ngôn sứ đã loan báo cho dân qua bao thế hệ: «Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Ðấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa» (Dt 1, 1-3).

Sám hối để tin, sám hối để bước ra khỏi bóng tối mà nhìn lên ánh sáng. Ðức Kitô là ánh sáng muôn dân đến vùng đất suy đồi để chiếu soi bằng sự hiện diện của Người. Nhưng không phải tự nhiên mà người ta có thể nhận ra ánh sáng của Người, nhân loại mọi thời vẫn thích bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng của Tin mừng và dần dần đánh mất ý thức về tội. Vì thế mà tội lỗi vẫn tràn lan, con người tự làm khổ mình, làm khổ nhau bởi chính những điều gian ác, bất công của mình gây nên. Sám hối nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Bởi lẽ lý do của việc sám hối là vì «Nước Trời đã gần đến».

Một điều ta cần phân định ở đây là Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai bằng lời kêu gọi sám hối chứ không hề áp đặt. Điều đó cho thấy Người luôn tôn trọng sự tự do của mọi người, cũng như Thiên Chúa luôn chờ đợi sự ưng thuận của con người. Nhưng chính thái độ ưng thuận ấy lại đem đến ơn cứu độ. Như thế, Sám hối không chỉ là một tiếng khóc của thất vọng, mà phải là một sức bật mới giúp cho con người vươn lên: «Hãy sám hối vì nước trời đã gần đến». Sám hối là khởi điểm của cuộc hành trình đức tin Kitô giáo. Sám hối còn là chìa khoá để vào Nước Trời. Nước trời chính là động lực của lòng sám hối. Lòng sám hối đích thực là phải quyết tâm hướng về thực tại của nước trời và những thực tại đó chính là hòa bình, bác ái, yêu thương, quảng đại, cảm thông, tha thứ. Thể hiện lòng sám hối chính là thực thi những giá trị ấy. Hãy sám hối vì nước trời đã gần đến, hay đúng hơn hãy sám hối để cho nước trời được đến giữa mọi người, liên kết và hiệp nhất mọi người trong cùng một ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Thánh Phaolô, trong bài đọc II, nhấn mạnh đến khía cạnh hiệp nhất này trong Giáo hội. Đối với Phaolô, chỉ có lòng quyết tâm hoán cải và trở về cùng Chúa Kitô, mới là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Qua lời khuyến dụ các tín hữu thành Côrintô của thánh Phaolô, chúng ta cũng nhận biết rằng dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Người, vì chính Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta: «Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: “Tôi thuộc về Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?» (cc. 12-13).

Lm. Quốc Bảo
Đọc thêm..


Chúa Nhật 3 thường niên năm A
Is 9, 1-4; ICr 1,10-13.17; Mt 4,12-17


Kính thưa quí ông bà anh chị em, người Việt Nam chúng ta hay nói: đoàn kết là sức mạnh; chia rẽ là tan rả. Quả thực không ai muốn gia đình, đoàn thể, đất nước mình bị tan rã cả.

Hôm nay, trong bài đọc 2, thơ nhất của thánh Phaolo tông đồ gởi tín hữu Cô-rin-tô cũng nói lên sự đau lòng khi có những thành phần trong cộng đoàn Cô-tin-tô có sự chia rẽ; kẻ này theo nhóm này, kẻ nọ theo nhóm kia. Khi thánh nhân nhìn thấy sự chia rẽ này thật đau lòng bởi mất tình huynh đệ đã đành mà khi chia rẽ như vậy thì không khác gì người ta phân chia thân thể của Đức Ki-tô ra làm nhiều mảnh.

Thế thì, để tránh sự chia rẽ nhau trong cộng đoàn hay trong gia đình cũng vậy thì mỗi người hãy nỗ lực phấn đấu, dẹp bỏ, cắt tỉa đi những cái gì làm cản trở đến sự đoàn kết trong đức tin. Tất cả đều phải nhắm về một đích điểm là Chúa Ki-tô.

Khi người Kitô hữu sống những lời mà Chúa truyền dạy là lúc họ mặc lấy tâm tình của Đức Kitô, để rồi trong Đức Kitô thì không có chuyện phân biệt tôi là người Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, hay nói cách khác: khi mỗi người sống triệt để lời mời gọi của Chúa Kitô thì trong một cộng đoàn, giáo xứ, dân tộc, đất nước và thế giới đâu có phân biệt tôi là người thuộc giai cấp này, giai cấp kia, tôi có học thức … nhưng tất cả là bổ túc cho nhau, là hỗ trợ cho nhau để làm thành một thân thể khỏe mạnh đầy sức sống; thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh.

Hội Thánh là thân thể của Chúa Ki-tô và tất cả mọi người lương dân tìm về. Giống như hình ảnh của bài đọc một mà sách I-sa-i-a đề cập đến vùng đất Giabulon và Nephthali là hai miền đất nhỏ bé như bị mất hút và lãng quyên so với bao vùng đất nổi tiếng như Caphanaum, hay Asyri, hay Rôma hoặc Ai-cập hay Babilon, thế mà nhờ đâu mà hai miền đất nhỏ bé hèn hạ lại nổi tiếng và bao nhiêu người tuôn về, nếu không phải là ở đó xuất hiện Đấng cứu nhân độ thế của nhân loại đó hay sao? Bởi vì” Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết.” (Is 9,1). Ánh sáng vĩ đại, mặt trời công chính đó là ai? Nếu không phải là Đức Giêsu Kitô xuất hiện rõ ràng trong thời gian, qua một nơi chốn mà chúng ta mừng lễ Giáng Sinh hằng năm đó sao. Điều này kinh Thánh đã nói trước bao đời ngay cả những người như các thượng tế và kinh sư không ưa, không tin Đấng Mêsia xuất hiện nơi một địa dư tầm thường, thế mà khi trả lời cho vua Hêrôđê, họ xác quyết: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.” ( Mt 2, 5).

Vậy thì, cuộc sống của mỗi người, cuộc sống của mỗi gia đình, của mỗi cộng đoàn, giáo xứ, quốc gia, sự to lớn vĩ đại trước mặt Chúa không phải đo bằng sự giàu có, cao sang, đẹp đẽ, tài giỏi, hay đất rộng phì nhiêu mà là, sự vĩ đại to lớn là: bất cứ ai, ở nơi nào biết đón nhận ánh sáng của Chúa và sống theo lời mời gọi của Ngài đều trở thành một người, một gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, quốc gia tốt lành thánh thiện bởi đức yêu thương và lòng mến thiết tha; bởi vì đức yêu thương và lòng mến thiết tha sẽ dẫn ta đến sự đồng tâm hiệp ý với nhau, sự đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và một tâm tình. Như thế đâu còn có chuyện: “Tôi thuộc Apôllô- Còn tôi, tôi về Kêpha- Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô”.

Với bài Tin Mừng thuật lại lời Chúa Giêsu rao giảng kêu gọi mọi người sám hối trở về: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”. Nước trời của yêu thương , nước trời của xóa bỏ mọi ngăn cách để tất cả, tất cả và tất cả trở nên một, như Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.” ( Ga 17,21).

Phải chăng, đích điểm và trọng tâm của lời rao giảng mà ba năm miệt mài đó đây của Chúa Giêsu chỉ xoay quanh vấn đề YÊU THƯƠNG- HIỆP NHẤT-NÊN MỘT. Yêu thương cần phải có và không có lý do gì để chần chừ vì: muốn hòa bình hạnh phúc, êm ấm thì không có gì thay thế bằng tình yêu, cho nên lời mời gọi của bài Tin Mừng Chúa Nhật 3 này như một sự cấp bách khẩn thiết: “ Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”. ( Mt 4,17). Nghĩa là Tin Mừng yêu thương, Tin Mừng cứu độ đã đến thời đến buổi mà Đức Kitô mang đến: Yêu thương để được cứu độ, cứu độ là sự giải thoát tất cả khỏi tình trạng khốn cùng để bước vào sự sống hạnh phúc bất diệt.

Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta luôn sám hối trở về vì Tin Mừng đòi hỏi. Xin Mẹ Maria , thánh cả Giuse và các thánh trên trời cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Amen.

Linh mục: Phaolô Cao Thế Bình S.D.D











Chúa Nhật 3 thường niên năm A



Chúa Nhật 3 thường niên năm A
Is 9, 1-4; ICr 1,10-13.17; Mt 4,12-17


Kính thưa quí ông bà anh chị em, người Việt Nam chúng ta hay nói: đoàn kết là sức mạnh; chia rẽ là tan rả. Quả thực không ai muốn gia đình, đoàn thể, đất nước mình bị tan rã cả.

Hôm nay, trong bài đọc 2, thơ nhất của thánh Phaolo tông đồ gởi tín hữu Cô-rin-tô cũng nói lên sự đau lòng khi có những thành phần trong cộng đoàn Cô-tin-tô có sự chia rẽ; kẻ này theo nhóm này, kẻ nọ theo nhóm kia. Khi thánh nhân nhìn thấy sự chia rẽ này thật đau lòng bởi mất tình huynh đệ đã đành mà khi chia rẽ như vậy thì không khác gì người ta phân chia thân thể của Đức Ki-tô ra làm nhiều mảnh.

Thế thì, để tránh sự chia rẽ nhau trong cộng đoàn hay trong gia đình cũng vậy thì mỗi người hãy nỗ lực phấn đấu, dẹp bỏ, cắt tỉa đi những cái gì làm cản trở đến sự đoàn kết trong đức tin. Tất cả đều phải nhắm về một đích điểm là Chúa Ki-tô.

Khi người Kitô hữu sống những lời mà Chúa truyền dạy là lúc họ mặc lấy tâm tình của Đức Kitô, để rồi trong Đức Kitô thì không có chuyện phân biệt tôi là người Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, hay nói cách khác: khi mỗi người sống triệt để lời mời gọi của Chúa Kitô thì trong một cộng đoàn, giáo xứ, dân tộc, đất nước và thế giới đâu có phân biệt tôi là người thuộc giai cấp này, giai cấp kia, tôi có học thức … nhưng tất cả là bổ túc cho nhau, là hỗ trợ cho nhau để làm thành một thân thể khỏe mạnh đầy sức sống; thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh.

Hội Thánh là thân thể của Chúa Ki-tô và tất cả mọi người lương dân tìm về. Giống như hình ảnh của bài đọc một mà sách I-sa-i-a đề cập đến vùng đất Giabulon và Nephthali là hai miền đất nhỏ bé như bị mất hút và lãng quyên so với bao vùng đất nổi tiếng như Caphanaum, hay Asyri, hay Rôma hoặc Ai-cập hay Babilon, thế mà nhờ đâu mà hai miền đất nhỏ bé hèn hạ lại nổi tiếng và bao nhiêu người tuôn về, nếu không phải là ở đó xuất hiện Đấng cứu nhân độ thế của nhân loại đó hay sao? Bởi vì” Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết.” (Is 9,1). Ánh sáng vĩ đại, mặt trời công chính đó là ai? Nếu không phải là Đức Giêsu Kitô xuất hiện rõ ràng trong thời gian, qua một nơi chốn mà chúng ta mừng lễ Giáng Sinh hằng năm đó sao. Điều này kinh Thánh đã nói trước bao đời ngay cả những người như các thượng tế và kinh sư không ưa, không tin Đấng Mêsia xuất hiện nơi một địa dư tầm thường, thế mà khi trả lời cho vua Hêrôđê, họ xác quyết: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.” ( Mt 2, 5).

Vậy thì, cuộc sống của mỗi người, cuộc sống của mỗi gia đình, của mỗi cộng đoàn, giáo xứ, quốc gia, sự to lớn vĩ đại trước mặt Chúa không phải đo bằng sự giàu có, cao sang, đẹp đẽ, tài giỏi, hay đất rộng phì nhiêu mà là, sự vĩ đại to lớn là: bất cứ ai, ở nơi nào biết đón nhận ánh sáng của Chúa và sống theo lời mời gọi của Ngài đều trở thành một người, một gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, quốc gia tốt lành thánh thiện bởi đức yêu thương và lòng mến thiết tha; bởi vì đức yêu thương và lòng mến thiết tha sẽ dẫn ta đến sự đồng tâm hiệp ý với nhau, sự đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và một tâm tình. Như thế đâu còn có chuyện: “Tôi thuộc Apôllô- Còn tôi, tôi về Kêpha- Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô”.

Với bài Tin Mừng thuật lại lời Chúa Giêsu rao giảng kêu gọi mọi người sám hối trở về: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”. Nước trời của yêu thương , nước trời của xóa bỏ mọi ngăn cách để tất cả, tất cả và tất cả trở nên một, như Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con.” ( Ga 17,21).

Phải chăng, đích điểm và trọng tâm của lời rao giảng mà ba năm miệt mài đó đây của Chúa Giêsu chỉ xoay quanh vấn đề YÊU THƯƠNG- HIỆP NHẤT-NÊN MỘT. Yêu thương cần phải có và không có lý do gì để chần chừ vì: muốn hòa bình hạnh phúc, êm ấm thì không có gì thay thế bằng tình yêu, cho nên lời mời gọi của bài Tin Mừng Chúa Nhật 3 này như một sự cấp bách khẩn thiết: “ Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”. ( Mt 4,17). Nghĩa là Tin Mừng yêu thương, Tin Mừng cứu độ đã đến thời đến buổi mà Đức Kitô mang đến: Yêu thương để được cứu độ, cứu độ là sự giải thoát tất cả khỏi tình trạng khốn cùng để bước vào sự sống hạnh phúc bất diệt.

Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta luôn sám hối trở về vì Tin Mừng đòi hỏi. Xin Mẹ Maria , thánh cả Giuse và các thánh trên trời cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Amen.

Linh mục: Phaolô Cao Thế Bình S.D.D











Đọc thêm..
Chúa Nhật 2, Qn năm A

Kính thưa qúi ông bà anh chị em, người Việt Nam ta thường nói: “Cha mẹ nở mặt nhờ con cái, hay cha mẹ hãnh diện về con cái” qủa thật không sai; thế thì, hôm nay qua bài đọc 1, sách tiên tri I-sa-i-a, Chúa cũng nói như thế này: “Hỡi Is-ra-en, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi”. ( Is 49,3). 

Kính thưa anh chị em, khi đọc câu nói: “Ngươi là tôi tớ Ta, vì ta được vinh hiển nơi ngươi” Điều này không những Chúa nói với dân Ít-ra-en xưa mà Chúa đang nói với toàn thể Người ki-tô hữu và cụ thể hơn nữa là Chúa đang nói với tôi và với quí ông bà anh chị em ngày nay. Thật là vinh dự và hãnh diện nhưng không khỏi bàng hoàng và run sợ. Vinh dự vì chúng ta chẳng là gì cả mà Chúa lại cho ta làm tôi tớ, làm con của Ngài. Nếu ta hiểu thấu đáo điều này thì làm sao mà ta không vui mừng sung sướng hạnh phúc được và có thể khiến chúng ta chết đi được; rồi lại nữa: “Chúa được vinh dự nơi ta”. Chúa được vinh dự điều gì nơi ta, thưa quí ông bà anh chị em. Chúng ta có gì mà làm cho Chúa được vinh dự, thưa chúng ta chẳng có gì cả, và nếu có thì cũng chỉ là một sự trần trụi, nghèo nàn, tội lỗi trước mặt Chúa mà thôi, thế nhưng Chúa vẫn yêu thương, tin tưởng nơi ta sẽ trở nên một thụ tạo mới tốt đẹp bởi ta nhận ra tình trạng con người yếu đuối của mình mà khiêm hạ trở về, hoàn toàn nương tựa vào Chúa, sống ngay lành, bác ái với anh em, kiên nhẫn và thứ tha các lỗi lầm cho anh em: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy thương yêu nhau” (Ga 13,35). Khi ta có những tâm tình như vậy thì như Chúa nói: “Ta được vinh danh nơi ngươi”.

Ngươi là tôi tớ Ta, Ta được vinh danh nơi ngươi, hiểu một cách cụ thể, đó là tiên tri I-sa-i-a, vì tiên tri đã được Chúa kêu gọi ngay từ trong lòng mẹ, được thánh hóa và sai đi; còn về phía tiên tri thì sao? Tiên tri đã đáp lại tiếng gọi và sống đúng ơn gọi của ông. Nhiệm vụ của tiên tri là loan báo, kêu gọi sám hối ăn năn trở về, rồi cũng có những lúc tiên tri loan báo sự đe dọa, trừng phạt, để cho dân thức tỉnh trở về với Chúa. 

Sức mạnh có được nơi người tiên tri là gì, nếu không phải là do lời Chúa thôi thúc đó sao, để rồi người của Chúa phải trở nên ánh sáng chiếu soi mọi người tìm về nẻo chính đường ngay để được hưởng ơn cứu độ. Ơn cứu độ, ơn giải thoát con người khỏi tình trạng khốn cùng của tội lỗi nhất là cái chết đời đời, chính vì thế mà lời của Chúa cần được rao giảng khắp mọi mọi thời. Bởi vậy, Thánh Phaolô trong bài đọc 2, thơ thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, ngài xác định về ơn gọi của mình: “ Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi” ( 1 Cr 1,1) . Các ngài đã xác quyết rằng: những người trong cộng đoàn Côrintô được thánh hóa trong Chúa Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” ( 1Cr 1,2 ). Hiểu như thế thì ngày hôm nay lời kêu gọi đó vẫn tiếp tục không ngừng vang vọng nơi mỗi người, Ki-tô hữu; cụ thể hơn nữa là nơi các tu sĩ nam nữ đã được Chúa kêu gọi cách đặc biệt, được thánh hóa và sai đi.

Kính thưa qúi ông bà anh chị em, ở đời nếu ta được một ai có danh tiếng thế gía trong xã hội, kêu gọi chúng ta để cho ta món qùa gì đó, thì chắc hẳn ta vui sướng và hãnh diện lắm. Thế nhưng ở đây, ta phải hãnh diện, phúc vinh và vui mừng khôn tả tả vì ta được Thiên Chúa kêu gọi, thánh hóa, để ta trở nên thánh, để được hưởng nước hằng sống vô tận của Thiên Chúa. Đây là món qùa mà ta không thể lấy một cái gì ở đời này để mà so sánh, thế mà thử hỏi mấy người thấu hiểu được hồng ân và vinh dự lớn lao mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta; bởi vì người ta không thể thấu hiểu, nên họ thờ ơ; bởi đó chúng ta không lạ gì khi thấy người ta cứ lao mình đi tìm những của cải vật chất, danh vọng, địa vị, ăn chơi giải trí hơn là những của cải thiêng liêng, cứu cánh cùng đích của cuộc đời, vì thế, người ta đâu tha thiết bận tâm về của cải thiêng liêng, cuộc sống mai sau; biết rằng của cải thiêng liêng này khó mà nhìn bằng cặp mắt trần tục, xác thịt, mà phải có cặp mắt tâm hồn qua việc lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện và chiêm niệm mỗi ngày, thì ta mới nhìn rõ được Thiên Chúa là ai? Con người chúng ta là ai? Và đâu là ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc đời, để ta tìm một con đường, một cuộc sống thât ý nghĩa được diễn tả bằng lời nói, việc làm như thánh Gioan Tẩy Giả đã nêu gương cho chúng ta trong sự khiêm tốn: “ Tôi là tiếng kêu trong hoang địa, là kẻ dọn đường. Người phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại. Tôi không đáng cúi xuống cỡi dép cho Người”. Với Thiên Chúa thì sao? Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người biết, như trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật 2 này thuật lại lời Gioan giới thiệu: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Tôi đã thấy và tôi làm chứng : chính Ngài là Con Thiên Chúa”. ( Ga 1, 29.32.34).

Như vậy, qua Gioan Tiền Hô cho ta thấy: là người Kitô hữu cần phải nhận ra mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và con người; Thiên Chúa quyền năng cao cả, là Đấng cứu độ, còn con người là thụ tạo, cần phải biết ơn Thiên Chúa và phải để cho Thiên Chúa nổi bật, thế nhưng lắm lúc trong cuộc sống ta lại muốn nổi nang, muốn dành phần vinh quang về mình, đó là mỗi khi ta khoe khoang, kêu ngạo, coi thường khinh dễ người khác, cậy dựa vào tiền bạc của cả, tài giỏi, sắc đẹp... nếu ta có những thái độ như thế thì làm sao Chúa có chổ đứng trong lòng ta. Và như thế làm sao ta làm chứng cho Chúa được và làm sao mà “Chúa được vinh danh nơi ta” giữa một xã hội đang tìm mọi cách chối bỏ Thiên Chúa cách này hay cách khác.

Vậy, muốn làm chứng cho Chúa thì trước hết ta cần phải có Chúa, và để cho Chúa phải lớn lên, còn ta thì phải nhỏ lại. Khi ta có được tâm tình như thế thì lời Chúa sẽ thúc bách ta hăng say nhiệt thành rao giảng, làm chứng cho Chúa khắp mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Làm chứng cho Chúa mà không sợ người ta hiểu lầm, vu oan, cáo vạ, bắt bớ, tù đày, đòn vọt và kể cả cái chết nữa để minh chứng cho tình yêu, chân lý, sự thật của Chúa, như Gioan Tẩy Giả và bao vị thánh trong Giáo Hội đã trải qua.

Ước gì lời Chúa mà chúng ta đón nhận mỗi ngày sẽ là sức mạnh cho chúng ta, để ta sống và làm chứng cho những gì ta tin, hầu mang lại lợi ích thiêng liêng cho chính chúng ta và cho mọi người. Amen. 

Lm Phaolô Cao Thế Bình S.D.D 









Chúa Nhật 2, Qn năm A

Chúa Nhật 2, Qn năm A

Kính thưa qúi ông bà anh chị em, người Việt Nam ta thường nói: “Cha mẹ nở mặt nhờ con cái, hay cha mẹ hãnh diện về con cái” qủa thật không sai; thế thì, hôm nay qua bài đọc 1, sách tiên tri I-sa-i-a, Chúa cũng nói như thế này: “Hỡi Is-ra-en, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi”. ( Is 49,3). 

Kính thưa anh chị em, khi đọc câu nói: “Ngươi là tôi tớ Ta, vì ta được vinh hiển nơi ngươi” Điều này không những Chúa nói với dân Ít-ra-en xưa mà Chúa đang nói với toàn thể Người ki-tô hữu và cụ thể hơn nữa là Chúa đang nói với tôi và với quí ông bà anh chị em ngày nay. Thật là vinh dự và hãnh diện nhưng không khỏi bàng hoàng và run sợ. Vinh dự vì chúng ta chẳng là gì cả mà Chúa lại cho ta làm tôi tớ, làm con của Ngài. Nếu ta hiểu thấu đáo điều này thì làm sao mà ta không vui mừng sung sướng hạnh phúc được và có thể khiến chúng ta chết đi được; rồi lại nữa: “Chúa được vinh dự nơi ta”. Chúa được vinh dự điều gì nơi ta, thưa quí ông bà anh chị em. Chúng ta có gì mà làm cho Chúa được vinh dự, thưa chúng ta chẳng có gì cả, và nếu có thì cũng chỉ là một sự trần trụi, nghèo nàn, tội lỗi trước mặt Chúa mà thôi, thế nhưng Chúa vẫn yêu thương, tin tưởng nơi ta sẽ trở nên một thụ tạo mới tốt đẹp bởi ta nhận ra tình trạng con người yếu đuối của mình mà khiêm hạ trở về, hoàn toàn nương tựa vào Chúa, sống ngay lành, bác ái với anh em, kiên nhẫn và thứ tha các lỗi lầm cho anh em: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy thương yêu nhau” (Ga 13,35). Khi ta có những tâm tình như vậy thì như Chúa nói: “Ta được vinh danh nơi ngươi”.

Ngươi là tôi tớ Ta, Ta được vinh danh nơi ngươi, hiểu một cách cụ thể, đó là tiên tri I-sa-i-a, vì tiên tri đã được Chúa kêu gọi ngay từ trong lòng mẹ, được thánh hóa và sai đi; còn về phía tiên tri thì sao? Tiên tri đã đáp lại tiếng gọi và sống đúng ơn gọi của ông. Nhiệm vụ của tiên tri là loan báo, kêu gọi sám hối ăn năn trở về, rồi cũng có những lúc tiên tri loan báo sự đe dọa, trừng phạt, để cho dân thức tỉnh trở về với Chúa. 

Sức mạnh có được nơi người tiên tri là gì, nếu không phải là do lời Chúa thôi thúc đó sao, để rồi người của Chúa phải trở nên ánh sáng chiếu soi mọi người tìm về nẻo chính đường ngay để được hưởng ơn cứu độ. Ơn cứu độ, ơn giải thoát con người khỏi tình trạng khốn cùng của tội lỗi nhất là cái chết đời đời, chính vì thế mà lời của Chúa cần được rao giảng khắp mọi mọi thời. Bởi vậy, Thánh Phaolô trong bài đọc 2, thơ thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, ngài xác định về ơn gọi của mình: “ Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi” ( 1 Cr 1,1) . Các ngài đã xác quyết rằng: những người trong cộng đoàn Côrintô được thánh hóa trong Chúa Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” ( 1Cr 1,2 ). Hiểu như thế thì ngày hôm nay lời kêu gọi đó vẫn tiếp tục không ngừng vang vọng nơi mỗi người, Ki-tô hữu; cụ thể hơn nữa là nơi các tu sĩ nam nữ đã được Chúa kêu gọi cách đặc biệt, được thánh hóa và sai đi.

Kính thưa qúi ông bà anh chị em, ở đời nếu ta được một ai có danh tiếng thế gía trong xã hội, kêu gọi chúng ta để cho ta món qùa gì đó, thì chắc hẳn ta vui sướng và hãnh diện lắm. Thế nhưng ở đây, ta phải hãnh diện, phúc vinh và vui mừng khôn tả tả vì ta được Thiên Chúa kêu gọi, thánh hóa, để ta trở nên thánh, để được hưởng nước hằng sống vô tận của Thiên Chúa. Đây là món qùa mà ta không thể lấy một cái gì ở đời này để mà so sánh, thế mà thử hỏi mấy người thấu hiểu được hồng ân và vinh dự lớn lao mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta; bởi vì người ta không thể thấu hiểu, nên họ thờ ơ; bởi đó chúng ta không lạ gì khi thấy người ta cứ lao mình đi tìm những của cải vật chất, danh vọng, địa vị, ăn chơi giải trí hơn là những của cải thiêng liêng, cứu cánh cùng đích của cuộc đời, vì thế, người ta đâu tha thiết bận tâm về của cải thiêng liêng, cuộc sống mai sau; biết rằng của cải thiêng liêng này khó mà nhìn bằng cặp mắt trần tục, xác thịt, mà phải có cặp mắt tâm hồn qua việc lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện và chiêm niệm mỗi ngày, thì ta mới nhìn rõ được Thiên Chúa là ai? Con người chúng ta là ai? Và đâu là ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc đời, để ta tìm một con đường, một cuộc sống thât ý nghĩa được diễn tả bằng lời nói, việc làm như thánh Gioan Tẩy Giả đã nêu gương cho chúng ta trong sự khiêm tốn: “ Tôi là tiếng kêu trong hoang địa, là kẻ dọn đường. Người phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại. Tôi không đáng cúi xuống cỡi dép cho Người”. Với Thiên Chúa thì sao? Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người biết, như trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật 2 này thuật lại lời Gioan giới thiệu: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Tôi đã thấy và tôi làm chứng : chính Ngài là Con Thiên Chúa”. ( Ga 1, 29.32.34).

Như vậy, qua Gioan Tiền Hô cho ta thấy: là người Kitô hữu cần phải nhận ra mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và con người; Thiên Chúa quyền năng cao cả, là Đấng cứu độ, còn con người là thụ tạo, cần phải biết ơn Thiên Chúa và phải để cho Thiên Chúa nổi bật, thế nhưng lắm lúc trong cuộc sống ta lại muốn nổi nang, muốn dành phần vinh quang về mình, đó là mỗi khi ta khoe khoang, kêu ngạo, coi thường khinh dễ người khác, cậy dựa vào tiền bạc của cả, tài giỏi, sắc đẹp... nếu ta có những thái độ như thế thì làm sao Chúa có chổ đứng trong lòng ta. Và như thế làm sao ta làm chứng cho Chúa được và làm sao mà “Chúa được vinh danh nơi ta” giữa một xã hội đang tìm mọi cách chối bỏ Thiên Chúa cách này hay cách khác.

Vậy, muốn làm chứng cho Chúa thì trước hết ta cần phải có Chúa, và để cho Chúa phải lớn lên, còn ta thì phải nhỏ lại. Khi ta có được tâm tình như thế thì lời Chúa sẽ thúc bách ta hăng say nhiệt thành rao giảng, làm chứng cho Chúa khắp mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Làm chứng cho Chúa mà không sợ người ta hiểu lầm, vu oan, cáo vạ, bắt bớ, tù đày, đòn vọt và kể cả cái chết nữa để minh chứng cho tình yêu, chân lý, sự thật của Chúa, như Gioan Tẩy Giả và bao vị thánh trong Giáo Hội đã trải qua.

Ước gì lời Chúa mà chúng ta đón nhận mỗi ngày sẽ là sức mạnh cho chúng ta, để ta sống và làm chứng cho những gì ta tin, hầu mang lại lợi ích thiêng liêng cho chính chúng ta và cho mọi người. Amen. 

Lm Phaolô Cao Thế Bình S.D.D 









Đọc thêm..
Lễ ĐGS chịu phép rửa, năm A
 «TÔI TRUNG»
Bài đọc 1: Isaia 42, 1-4.6-7
Bài đọc 2: Công vụ 10, 34-38
Tin Mừng: Matthêu 3, 13-17
«Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người ta tuyển chọn và hết lòng quý mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người; người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân» (c. 1 – Bài đọc I).
Những chi tiết này gợi nhắc cho chúng ta về hình ảnh người Tôi Trung của Đức Chúa. Đoạn sách Isaia trong bài đọc 1 miêu tả lại đặc tính đầu tiên của người Tôi Trung là được chính Thiên Chúa tuyển chọn và ban ơn thánh để thi hành sứ vụ.
Ơn gọi của người Tôi Trung chính là sứ mạng loan báo sự công chính của Thiên Chúa trong khắp các vùng dân ngoại bằng chính sự khiêm nhường, hiền hòa và nhẫn nại: «Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, người không bẻ gẫy; tim đèn leo lét, cũng chẳng tắt đi. Người sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý. Người không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu. Dân các hải đảo xa xăm đều mong được người chỉ bảo» (cc. 2-4).
Và hơn nữa, người Tôi Trung còn được Thiên Chúa kêu gọi trở thành ánh sáng, đồng thời trở nên như vị trung gian trong giao ước giữa Thiên Chúa và con người: «Ta đã nắm tay người, đã gìn giữ người và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước» (c.6). Đó là một giao ước đã tiên báo giao ước mới mà chính Đức Giêsu sẽ thực hiện sau này.
Quả nhiên, nếu đọc kỹ đoạn tin mừng của thánh Matthêu hôm nay, ta sẽ nhận thấy có những chi tiết lấy từ các Bài Ca về Người Tôi Trung của Đức Chúa: «Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống trên người […]. Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về người» (Mt 3,16-17 // Is 42,1): «Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người ta tuyển chọn và hết lòng quý mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người».
Như thế, Đức Giêsu là Người Tôi Trung đã sẵn sàng đến chia sẻ thân phận khốn cùng của kẻ tội lỗi, khi đến xếp hàng chờ được nhận phép rửa, là nhận lấy những yếu đuối của loài người, như Mt nói sau này (Mt 8,17: Is 53,4). Như thế, tác giả đã kín đáo ám chỉ cuộc Thương Khó (x. Mt 27,45-56) mà Người sẽ phải chịu sau này.
Cùng trong quan điểm này, Thánh sử Gioan cũng nhìn nhận rằng chính lúc Đức Giêsu bước xuống dòng sông Giorđan lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô, là Người bắt đầu bước vào hành trình thương khó. Bởi theo Thánh Gioan, phép rửa mà Đức Giêsu chịu không chỉ bằng nước, mà bằng nước, máu và Thánh Thần: «Chính Đức Giêsu là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật. Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều» (1Ga 5, 6-8).
Người ta thường thắc mắc: tại sao Thiên Chúa lại quy định rằng Đấng Mêsia phải nhận phép rửa của Gioan và xuất hiện ra như một người tội lỗi? - Ngữ cảnh các bản văn phụng vụ hôm nay không cung cấp đầy đủ những lý do rõ ràng nào giúp giải thích ý muốn này của Thiên Chúa. Nhưng toàn bộ Tân Ước thì cung cấp 4 lý do:
(1) Lý do thứ nhất, dựa trên Mt 20,28 và 26,28: Đức Giêsu phải tạ tội cho “một số đông”, nghĩa là muôn người. Đoạn sách Công vụ 8,32-35 (// Is 53,7-8) cho thấy Đức Giêsu là như Người Tôi Trung của Đức Chúa, gánh lấy đau khổ vì tội lỗi của dân mình, cho dù bản thân Người không có tội. Riêng Thánh Phaolô thì diễn tả rất rõ ràng: «Nhờ việc nhập thể, Đức Giêsu đã “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi» (Rm 8,3), Người đã trở nên thành viên và thủ lãnh của một nhân loại tội lỗi. Vậy, mặc dù không có tội, Đức Giêsu đã phải lãnh nhận phép rửa bày tỏ sự thống hối do liên đới với loài người tội lỗi (x. 2 Cr 5,21; Dt 2,14-17).
(2) Lý do thứ hai, như Đức Giêsu đã giải thích với Gioan: «để giữ trọn đức công chính» (c. 15 – Bài tin mừng). Theo các nhà chú giải, việc Đức Giêsu bước xuống dòng sông để chịu phép rửa từ tay Gioan, là muốn cho dân chúng nhận biết rằng chính Gioan Tẩy Giả cũng là người được Thiên Chúa sai đến, là tiếng kêu trong hoang địa để dọn đường cho Đấng Messia, và sứ mạng của ông cũng là sứ mạng thánh, được thực hiện trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
(3) Lý do thứ ba, vì nhiệm cục cứu độ. Chính Thiên Chúa đã đến xác nhận việc làm của Gioan là để tôn phong Đức Giêsu được hiểu trong ánh sáng của các sách Cựu Ước. Lời tuyên bố «Đây là con yêu dấu của Ta» có xuất xứ từ Thánh vịnh 2, được hiểu theo tướng hiệu quân vương sẽ ngự trên ngai báu mà trị vì nhà Israel. Như thế, từ sự sắc phong đó mà Đức Giêsu được xem như là vua, được ca tụng như người đứng đầu cai trị vương quốc đã được Thiên Chúa khai mở, trong sự trung thành tuyệt đối với nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.
(4) lý do thứ tư, khai mở một thế giới mới. Hình ảnh Chúa Thánh Thần từ trời ngự xuống dưới hình chim bồ câu, gợi nhắc lại hình ảnh con tàu của ông Noê trong nạn lụt Hồng Thủy (St 8, 8-12). Bồ câu đã báo tin rằng nạn lụt đã dứt, nước đã rút cạn, và đất mở ra một thời đại mới… đó là thời của công lý và hòa bình, là thời của ân sủng và ơn ơn cứu độ. Hơn nữa, chính Chúa Thánh Thần ngự xuống sẽ làm cho con người trở nên một thọ tạo mới (St 1, 1-2) thuộc về và sống cho Thiên Chúa.
Từ phép rửa của Đức Giêsu đến phép rửa của mỗi người chúng ta có mối liên hệ nào?
Các Thánh Giáo phụ đã giải thích rất rõ ràng về mối tương quan này: Đức Giêsu không cần được thánh hóa bằng nước, nhưng chính người đã bước xuống để thánh hóa dòng nước, để những ai dìm mình trong dòng nước ấy là được dìm trong sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô, được tái sinh trong Thánh Thần, và sống với Chúa Cha trong đời sống mới (x. Rm 6).
Ngoài ra, khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy, người kitô hữu được tháp nhập vào Giáo hội, nghĩa là được trở nên chi thể của Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô (1Cr 13), không hề có phân biệt về chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hay địa vị xã hội (Gal 3, 26-29). Họ không còn sống theo tính xác thịt nữa, nhưng là để cho Thần Khí thánh hóa và hướng dẫn dấn thân trong sứ vụ  loan báo triều đại Thiên Chúa đã đến trong thời gian; đồng thời cũng như Gioan làm chứng về Đức Giêsu rằng: «Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn» (Ga 1, 34).
Lm. Quốc Bảo

Lễ ĐGS chịu phép rửa, năm A

Lễ ĐGS chịu phép rửa, năm A
 «TÔI TRUNG»
Bài đọc 1: Isaia 42, 1-4.6-7
Bài đọc 2: Công vụ 10, 34-38
Tin Mừng: Matthêu 3, 13-17
«Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người ta tuyển chọn và hết lòng quý mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người; người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân» (c. 1 – Bài đọc I).
Những chi tiết này gợi nhắc cho chúng ta về hình ảnh người Tôi Trung của Đức Chúa. Đoạn sách Isaia trong bài đọc 1 miêu tả lại đặc tính đầu tiên của người Tôi Trung là được chính Thiên Chúa tuyển chọn và ban ơn thánh để thi hành sứ vụ.
Ơn gọi của người Tôi Trung chính là sứ mạng loan báo sự công chính của Thiên Chúa trong khắp các vùng dân ngoại bằng chính sự khiêm nhường, hiền hòa và nhẫn nại: «Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, người không bẻ gẫy; tim đèn leo lét, cũng chẳng tắt đi. Người sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý. Người không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu. Dân các hải đảo xa xăm đều mong được người chỉ bảo» (cc. 2-4).
Và hơn nữa, người Tôi Trung còn được Thiên Chúa kêu gọi trở thành ánh sáng, đồng thời trở nên như vị trung gian trong giao ước giữa Thiên Chúa và con người: «Ta đã nắm tay người, đã gìn giữ người và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước» (c.6). Đó là một giao ước đã tiên báo giao ước mới mà chính Đức Giêsu sẽ thực hiện sau này.
Quả nhiên, nếu đọc kỹ đoạn tin mừng của thánh Matthêu hôm nay, ta sẽ nhận thấy có những chi tiết lấy từ các Bài Ca về Người Tôi Trung của Đức Chúa: «Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống trên người […]. Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về người» (Mt 3,16-17 // Is 42,1): «Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người ta tuyển chọn và hết lòng quý mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người».
Như thế, Đức Giêsu là Người Tôi Trung đã sẵn sàng đến chia sẻ thân phận khốn cùng của kẻ tội lỗi, khi đến xếp hàng chờ được nhận phép rửa, là nhận lấy những yếu đuối của loài người, như Mt nói sau này (Mt 8,17: Is 53,4). Như thế, tác giả đã kín đáo ám chỉ cuộc Thương Khó (x. Mt 27,45-56) mà Người sẽ phải chịu sau này.
Cùng trong quan điểm này, Thánh sử Gioan cũng nhìn nhận rằng chính lúc Đức Giêsu bước xuống dòng sông Giorđan lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô, là Người bắt đầu bước vào hành trình thương khó. Bởi theo Thánh Gioan, phép rửa mà Đức Giêsu chịu không chỉ bằng nước, mà bằng nước, máu và Thánh Thần: «Chính Đức Giêsu là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật. Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều» (1Ga 5, 6-8).
Người ta thường thắc mắc: tại sao Thiên Chúa lại quy định rằng Đấng Mêsia phải nhận phép rửa của Gioan và xuất hiện ra như một người tội lỗi? - Ngữ cảnh các bản văn phụng vụ hôm nay không cung cấp đầy đủ những lý do rõ ràng nào giúp giải thích ý muốn này của Thiên Chúa. Nhưng toàn bộ Tân Ước thì cung cấp 4 lý do:
(1) Lý do thứ nhất, dựa trên Mt 20,28 và 26,28: Đức Giêsu phải tạ tội cho “một số đông”, nghĩa là muôn người. Đoạn sách Công vụ 8,32-35 (// Is 53,7-8) cho thấy Đức Giêsu là như Người Tôi Trung của Đức Chúa, gánh lấy đau khổ vì tội lỗi của dân mình, cho dù bản thân Người không có tội. Riêng Thánh Phaolô thì diễn tả rất rõ ràng: «Nhờ việc nhập thể, Đức Giêsu đã “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi» (Rm 8,3), Người đã trở nên thành viên và thủ lãnh của một nhân loại tội lỗi. Vậy, mặc dù không có tội, Đức Giêsu đã phải lãnh nhận phép rửa bày tỏ sự thống hối do liên đới với loài người tội lỗi (x. 2 Cr 5,21; Dt 2,14-17).
(2) Lý do thứ hai, như Đức Giêsu đã giải thích với Gioan: «để giữ trọn đức công chính» (c. 15 – Bài tin mừng). Theo các nhà chú giải, việc Đức Giêsu bước xuống dòng sông để chịu phép rửa từ tay Gioan, là muốn cho dân chúng nhận biết rằng chính Gioan Tẩy Giả cũng là người được Thiên Chúa sai đến, là tiếng kêu trong hoang địa để dọn đường cho Đấng Messia, và sứ mạng của ông cũng là sứ mạng thánh, được thực hiện trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
(3) Lý do thứ ba, vì nhiệm cục cứu độ. Chính Thiên Chúa đã đến xác nhận việc làm của Gioan là để tôn phong Đức Giêsu được hiểu trong ánh sáng của các sách Cựu Ước. Lời tuyên bố «Đây là con yêu dấu của Ta» có xuất xứ từ Thánh vịnh 2, được hiểu theo tướng hiệu quân vương sẽ ngự trên ngai báu mà trị vì nhà Israel. Như thế, từ sự sắc phong đó mà Đức Giêsu được xem như là vua, được ca tụng như người đứng đầu cai trị vương quốc đã được Thiên Chúa khai mở, trong sự trung thành tuyệt đối với nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.
(4) lý do thứ tư, khai mở một thế giới mới. Hình ảnh Chúa Thánh Thần từ trời ngự xuống dưới hình chim bồ câu, gợi nhắc lại hình ảnh con tàu của ông Noê trong nạn lụt Hồng Thủy (St 8, 8-12). Bồ câu đã báo tin rằng nạn lụt đã dứt, nước đã rút cạn, và đất mở ra một thời đại mới… đó là thời của công lý và hòa bình, là thời của ân sủng và ơn ơn cứu độ. Hơn nữa, chính Chúa Thánh Thần ngự xuống sẽ làm cho con người trở nên một thọ tạo mới (St 1, 1-2) thuộc về và sống cho Thiên Chúa.
Từ phép rửa của Đức Giêsu đến phép rửa của mỗi người chúng ta có mối liên hệ nào?
Các Thánh Giáo phụ đã giải thích rất rõ ràng về mối tương quan này: Đức Giêsu không cần được thánh hóa bằng nước, nhưng chính người đã bước xuống để thánh hóa dòng nước, để những ai dìm mình trong dòng nước ấy là được dìm trong sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô, được tái sinh trong Thánh Thần, và sống với Chúa Cha trong đời sống mới (x. Rm 6).
Ngoài ra, khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy, người kitô hữu được tháp nhập vào Giáo hội, nghĩa là được trở nên chi thể của Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô (1Cr 13), không hề có phân biệt về chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hay địa vị xã hội (Gal 3, 26-29). Họ không còn sống theo tính xác thịt nữa, nhưng là để cho Thần Khí thánh hóa và hướng dẫn dấn thân trong sứ vụ  loan báo triều đại Thiên Chúa đã đến trong thời gian; đồng thời cũng như Gioan làm chứng về Đức Giêsu rằng: «Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn» (Ga 1, 34).
Lm. Quốc Bảo
Đọc thêm..
                                                         Lễ Hiển Linh 

         Kính thưa qúi ông bà anh chị em, hằng ngày nếu ta để ý những cử chỉ, lời nói, hành động của một ai đó thì ta có thể biết được những sự biểu lộ bên ngoài đó nói cho ta rằng: họ là người có học, hiền lành, khiêm tốn, giản dị hay họ là người kiêu căng tự mãn... hay nói khác đi, họ muốn tỏ mình ra cho người khác thấy. 

      Hôm nay chúng ta cũng mừng lễ: một người tỏ mình ra cho muôn dân biết, người đó là ai? Người đó là Đấng quyền năng nhưng lại yêu thương nhân loại vô cùng nên đã đến trần gian để cứu với con người đang bị sự đau khổ do tội lỗi nhận chìm. Thánh lễ chúng ta mừng Chúa Nhật này gọi là lễ Hiển Linh- Chúa tỏ mình cho muôn dân cụ thể là ba nhà đạo sĩ từ các phương xa tìm về bái lạy Vua Hài Nhi Giê-su. Thiên Chúa tỏ mình ra cho muôn dân biết Ngài là Đấng Mê-si-a mà các ngôn sứ, tiên tri đã loan báo từ ngàn xưa, nay đã ra đời ở Bêlem. Các mục đồng tìm đến gợi khen chúc tụng, rồi các nhà đạo sĩ ở Phương Đông cũng tìm về triều bái và dâng lễ vật. 

         Bài đọc 1, sách tiên tri Isaia cho ta thấy hình ảnh vinh quang chiếu tỏa từ Giêrusalem, trong khi các dân tộc còn sống trong u tối. Giêrusalem không phải tự nó chiếu sáng vinh quang nhưng là nhờ Thiên Chúa làm người mà lúc này, Ngài đang hiện diện nơi thành Belem, bởi vậy mà các dân tộc dập dìu kép tới, nguồn phú túc và lạc đà cũng tuôn về. Với viễn tượng mà Isaia nhìn Giêrusalem toả sáng, chắc chắn lời tiên báo về thời Đấng cứu Thế đã đến. Phải, thời Đấng Mê-si-a đã đến và thời đó sẽ viên mãn như lời Chúa Giêsu nói: Rồi đây người Phương Đông, Phương Tây sẽ tuôn đến, trong khi con cái trong nhà bị loại ra ngoài, ám chỉ ngày quang lâm, lời tiên tri được thực hiện hoàn toàn. Nhưng hiện nay đã khởi sự nơi Hài Nhi Giêsu mà hôm nay ngôi sao dẫn đường ba vua đã dừng lại ở Bêlem nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Giêrusalem bừng sáng, chính nơi đây ba nhà đạo sĩ tìm đến thờ lạy.
       Giáo Hội ngày nay là hình ảnh Giêrusalem đang bừng sáng để muôn dân nhận ra và tìm về. Và ta cũng có thể nhìn vào mỗi một cộng đoàn, giáo xứ, gia đình, hay cá nhân là một Giáo Hội được thu nhỏ. Giê-ru-sa-lem xưa bừng sáng, thì nay qua mỗi người chúng ta cũng phải bừng sáng bởi ngày chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội, mỗi tín hữu được trao cây nến thắp sáng để chiếu dọi vào thế giới u tối. Khi chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội là lúc ta lãnh nhận ba chức năng: ngôn sứ, tư tế và vương đế; nghĩa là: vai trò rao giảng, vai trò tế tự và vai trò cai quản. Cho nên, hôm nay, hơn ai hết là người ki-tô hữu, chúng ta có một vai trò và sứ mạng quan trọng trong thế giới hôm nay; vai trò đó là: là muối mặn để ướp đời và là ánh sáng chiếu soi vào trần thế. Muối và ánh sáng của mỗi ki-tô hữu phải được muối tình yêu của Thiên Chúa trộn vào và ánh sáng của người ki-tô hữu phải được ánh sáng siêu việt của Chúa Ki-tô chiếu soi. Có như thế công việc của người ki-tô mới có một hiệu năng và có sức lôi kéo người khác tìm về chính nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của Thiên Chúa. 
        Tin Mừng, tin vui mà Chúa muốn cho chúng ta mang đi loan báo cho mọi người là một Tin Mừng sống động khởi đi từ Hài Nhi bé bỏng, nhưng lại là Vua muôn vua, Vua của sự bình an. Chính vì sự nghịch lý này mà xưa cũng như nay đã không biết bao nhiêu người không chấp nhận đã đành mà còn xuơ đuổi, loại trừ Chúa ra khỏi cuộc đời của mình, và còn hung bạo hơn nữa là  không muốn cho Thiên Chúa hiện hữu trong thế giới này, bởi vì con người quá kiêu căng và lỗ mãng hết chổ nói. Con người hôm nay muốn mình làm chúa để quyết định và điều khiển mọi sự. Lại nữa, vì sự ích kỷ của con người nên nó sợ ảnh hưởng tới địa vị, quyền lợi này, quyền lợi kia, như trường hợp vua Hêrôđê sợ mất ngôi vua của ông nên ông đã có những âm mưa thâm độc nham hiểm nên tìm cách giết hại Hài Nhi Giê-su, nhưng khi không giết được Hài Nhi Giê-su, Hê-rô-đê đã ra lệnh giết tất cả các trẻ em ở Giê-ru-sa-lem và các vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống cho chắc ăn. 
Hình ảnh một Hêrôđê xưa thật đáng sợ, nhưng ngày nay  biết bao nhiêu Hêrôđê còn đáng sợ hơn nhiều; bởi vì, Hêrôđê xưa chỉ giết những đứa trẻ không phải là máu mủ ruột thịt của mình, thế mà ngày nay biết bao người mẹ không nương tay sát hại chính con của mình. Rồi bạo chúa Hêrôđê hôm nay là những người tiếp tay cho những bà mẹ phá thai. Hêrôđê ngày nay là những  kẻ dùng đồng tiền để đẩy bao nhiêu trẻ thơ vô tội vào con đường huỷ hoại cuộc đời. Ôi ngày nay Hêrôđê bạo chúa đang ẩn núp dưới mọi hình thức. 
        Phúc cho những ai thành tâm thiện chí, những tâm hồn khiêm tốn, bé nhỏ để đón nhận mầu nhiệm giáng sinh. Mẹ Maria, thánh Giuse, các mục đồng, ba nhà đạo sĩ, đó là những người có phúc, đó là những người sẽ được dự phần vinh phúc trong nước Chúa.
        Ước gì lễ hiển linh hôm nay mời gọi mỗi người trở thành sự Hiển Linh của Chúa trong môi trường chúng ta sống; nghĩa là để cho Chúa sinh ra thực sự trong lòng chúng ta, và làm cho cuộc đời chúng ta bừng sáng lên. Đó phải chăng là sự Hiển Linh của Chúa đang được thể hiện qua chúng ta. Amen.

Linh mục Phaolo Cao Thế Bình SDD



Lễ Hiển Linh

                                                         Lễ Hiển Linh 

         Kính thưa qúi ông bà anh chị em, hằng ngày nếu ta để ý những cử chỉ, lời nói, hành động của một ai đó thì ta có thể biết được những sự biểu lộ bên ngoài đó nói cho ta rằng: họ là người có học, hiền lành, khiêm tốn, giản dị hay họ là người kiêu căng tự mãn... hay nói khác đi, họ muốn tỏ mình ra cho người khác thấy. 

      Hôm nay chúng ta cũng mừng lễ: một người tỏ mình ra cho muôn dân biết, người đó là ai? Người đó là Đấng quyền năng nhưng lại yêu thương nhân loại vô cùng nên đã đến trần gian để cứu với con người đang bị sự đau khổ do tội lỗi nhận chìm. Thánh lễ chúng ta mừng Chúa Nhật này gọi là lễ Hiển Linh- Chúa tỏ mình cho muôn dân cụ thể là ba nhà đạo sĩ từ các phương xa tìm về bái lạy Vua Hài Nhi Giê-su. Thiên Chúa tỏ mình ra cho muôn dân biết Ngài là Đấng Mê-si-a mà các ngôn sứ, tiên tri đã loan báo từ ngàn xưa, nay đã ra đời ở Bêlem. Các mục đồng tìm đến gợi khen chúc tụng, rồi các nhà đạo sĩ ở Phương Đông cũng tìm về triều bái và dâng lễ vật. 

         Bài đọc 1, sách tiên tri Isaia cho ta thấy hình ảnh vinh quang chiếu tỏa từ Giêrusalem, trong khi các dân tộc còn sống trong u tối. Giêrusalem không phải tự nó chiếu sáng vinh quang nhưng là nhờ Thiên Chúa làm người mà lúc này, Ngài đang hiện diện nơi thành Belem, bởi vậy mà các dân tộc dập dìu kép tới, nguồn phú túc và lạc đà cũng tuôn về. Với viễn tượng mà Isaia nhìn Giêrusalem toả sáng, chắc chắn lời tiên báo về thời Đấng cứu Thế đã đến. Phải, thời Đấng Mê-si-a đã đến và thời đó sẽ viên mãn như lời Chúa Giêsu nói: Rồi đây người Phương Đông, Phương Tây sẽ tuôn đến, trong khi con cái trong nhà bị loại ra ngoài, ám chỉ ngày quang lâm, lời tiên tri được thực hiện hoàn toàn. Nhưng hiện nay đã khởi sự nơi Hài Nhi Giêsu mà hôm nay ngôi sao dẫn đường ba vua đã dừng lại ở Bêlem nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Giêrusalem bừng sáng, chính nơi đây ba nhà đạo sĩ tìm đến thờ lạy.
       Giáo Hội ngày nay là hình ảnh Giêrusalem đang bừng sáng để muôn dân nhận ra và tìm về. Và ta cũng có thể nhìn vào mỗi một cộng đoàn, giáo xứ, gia đình, hay cá nhân là một Giáo Hội được thu nhỏ. Giê-ru-sa-lem xưa bừng sáng, thì nay qua mỗi người chúng ta cũng phải bừng sáng bởi ngày chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội, mỗi tín hữu được trao cây nến thắp sáng để chiếu dọi vào thế giới u tối. Khi chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội là lúc ta lãnh nhận ba chức năng: ngôn sứ, tư tế và vương đế; nghĩa là: vai trò rao giảng, vai trò tế tự và vai trò cai quản. Cho nên, hôm nay, hơn ai hết là người ki-tô hữu, chúng ta có một vai trò và sứ mạng quan trọng trong thế giới hôm nay; vai trò đó là: là muối mặn để ướp đời và là ánh sáng chiếu soi vào trần thế. Muối và ánh sáng của mỗi ki-tô hữu phải được muối tình yêu của Thiên Chúa trộn vào và ánh sáng của người ki-tô hữu phải được ánh sáng siêu việt của Chúa Ki-tô chiếu soi. Có như thế công việc của người ki-tô mới có một hiệu năng và có sức lôi kéo người khác tìm về chính nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của Thiên Chúa. 
        Tin Mừng, tin vui mà Chúa muốn cho chúng ta mang đi loan báo cho mọi người là một Tin Mừng sống động khởi đi từ Hài Nhi bé bỏng, nhưng lại là Vua muôn vua, Vua của sự bình an. Chính vì sự nghịch lý này mà xưa cũng như nay đã không biết bao nhiêu người không chấp nhận đã đành mà còn xuơ đuổi, loại trừ Chúa ra khỏi cuộc đời của mình, và còn hung bạo hơn nữa là  không muốn cho Thiên Chúa hiện hữu trong thế giới này, bởi vì con người quá kiêu căng và lỗ mãng hết chổ nói. Con người hôm nay muốn mình làm chúa để quyết định và điều khiển mọi sự. Lại nữa, vì sự ích kỷ của con người nên nó sợ ảnh hưởng tới địa vị, quyền lợi này, quyền lợi kia, như trường hợp vua Hêrôđê sợ mất ngôi vua của ông nên ông đã có những âm mưa thâm độc nham hiểm nên tìm cách giết hại Hài Nhi Giê-su, nhưng khi không giết được Hài Nhi Giê-su, Hê-rô-đê đã ra lệnh giết tất cả các trẻ em ở Giê-ru-sa-lem và các vùng phụ cận từ hai tuổi trở xuống cho chắc ăn. 
Hình ảnh một Hêrôđê xưa thật đáng sợ, nhưng ngày nay  biết bao nhiêu Hêrôđê còn đáng sợ hơn nhiều; bởi vì, Hêrôđê xưa chỉ giết những đứa trẻ không phải là máu mủ ruột thịt của mình, thế mà ngày nay biết bao người mẹ không nương tay sát hại chính con của mình. Rồi bạo chúa Hêrôđê hôm nay là những người tiếp tay cho những bà mẹ phá thai. Hêrôđê ngày nay là những  kẻ dùng đồng tiền để đẩy bao nhiêu trẻ thơ vô tội vào con đường huỷ hoại cuộc đời. Ôi ngày nay Hêrôđê bạo chúa đang ẩn núp dưới mọi hình thức. 
        Phúc cho những ai thành tâm thiện chí, những tâm hồn khiêm tốn, bé nhỏ để đón nhận mầu nhiệm giáng sinh. Mẹ Maria, thánh Giuse, các mục đồng, ba nhà đạo sĩ, đó là những người có phúc, đó là những người sẽ được dự phần vinh phúc trong nước Chúa.
        Ước gì lễ hiển linh hôm nay mời gọi mỗi người trở thành sự Hiển Linh của Chúa trong môi trường chúng ta sống; nghĩa là để cho Chúa sinh ra thực sự trong lòng chúng ta, và làm cho cuộc đời chúng ta bừng sáng lên. Đó phải chăng là sự Hiển Linh của Chúa đang được thể hiện qua chúng ta. Amen.

Linh mục Phaolo Cao Thế Bình SDD



Đọc thêm..
Lễ Hiển Linh, năm A
«ÁNH SÁNG»

Bài đọc 1: Isaia 60, 1-6
Bài đọc 2: Êphêsô 3, 2-3a.5-6
Tin Mừng: Matthêu 2, 1-12

«Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước» (cc. 1-3 – Bài đọc I).


Qua những lời kêu gọi đầy hân hoan này, Isaia như cho biết những điều mà ông tiên báo 600 năm trước đã gần như trở thành hiện thực: «Dân đang lần bước giữa tăm tối sẽ được nhìn thấy ánh sáng huy hoàng» (Is 9,1). Đó là thứ ánh sáng giúp dân Dothái thấy được một tương lai rực rỡ, một tương lai không còn cảnh nộ lệ khổ đau. Ánh sáng ấy là «Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi», trên dân tộc Dothái đã bao đời phải lầm lũi bước đi trong cảnh lưu đày. Thực tế là người Dothái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ nhiều thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh: «Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel» (Ds 24, 17), và ngôn sứ Mikha cũng đã tiên báo: «Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel» (Mk 5,1).

Trong nhãn quan của ngôn sứ I-sai-a, Giêrusalem không còn là thủ đô của dân tộc nhỏ bé Israel nữa, nhưng nó đã trở nên "thành đô của Thiên Chúa" và là trung tâm cứu độ của toàn thể thế giới, bởi nó đã được mặt trời công chính ngự đến. Giêrusalem đã được chọn làm nơi "vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa". Vì thế ngôn sứ kêu gọi Giêrusalem hãy đứng cao lên để toàn thế giới nhận được ánh bình minh của Đức Chúa. Giêrusalem sẽ chứng kiến tầm quan trọng của nó vì nó trở nên nguồn sáng lôi cuốn và hướng dẫn toàn nhân loại đến một vương quốc mới.

Đó là lời tiên tri Isaia loan báo về tương lai huy hoàng của Giêrusalem. Giêrusalem có được như vậy, được trở thành trung tâm của muôn dân đổ dồn về đó là vì nhờ Giêrusalem có Thiên Chúa hiện diện ở giữa. Không có Thiên Chúa hiện diện thì Giêrusalem vẫn chỉ như bao thành khác. Ánh sáng mà Giêrusalem nhận được từ Chúa đã chiếu soi muôn người, ánh sáng đó lôi kéo tất cả mọi người, không trừ một ai đến với Chúa. Giêrusalem ngày xưa trở thành hình ảnh của Giáo Hội ngày nay, vì Giáo Hội là nơi qui tụ tất cả mọi dân tộc.

Lời tiên tri Isaia loan báo về tương lai huy hoàng cho Giêrusalem được ứng nghiệm trong biến cố các vua từ Phương Đông tìm đến Vua dân Do Thái mới sinh đã được thánh sử Matthêu ghi lại trong bài tin mừng. Tuy nhiên, có một sự thật trớ trêu: là khi vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ đợi chờ, dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm, các thượng tế và kinh sư thì dửng dưng thụ động, cho dù họ thông thạo Kinh Thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế. Hêrôđê lại còn hoảng hốt vì sợ ngai vàng của mình bị lung lay. Chỉ có các đạo sĩ đại diện cho lương dân lại hăng hái lên đường, hăm hở tìm kiếm, cho dù cuộc kiếm tìm đầy phiêu lưu trắc trở. Đó là toàn bộ bối cảnh của ngày Lễ Hiển Linh.

Lễ Hiển Linh, trước đây thường được gọi là lễ Ba Vua. Nếu "Ba Vua" là tên gọi nói lên thiện chí của con người tìm gặp Thiên Chúa, thì "Hiển Linh" là danh xưng khẳng định ân ban của Thiên Chúa, vì chính Người tỏ mình ra cho nhân loại. Thiện chí thôi, vẫn chỉ là khởi điểm; nhưng chính ân ban mới là kết điểm mở ra những mùa gặp gỡ. Như thế, mỗi tên gọi có những điểm nhấn riêng, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một mầu nhiệm của cuộc gặp gỡ mà Thiên Chúa từ bao thuở đã mở ra cho những kẻ khao khát đi tìm. Do đó, đây không chỉ là một biến cố của ngày đã qua, mà còn là một sứ điệp của ngày hôm nay và cho những ngày sẽ tới. Chúa vẫn tỏ mình, nhưng vấn đề là người ta có thiện chí đến gặp Người hay không. Và tới phiên mình, mỗi lần gặp gỡ tại kết điểm hành trình, lại là một khởi điểm mới cho hành trình tìm kiếm mới, với những thiện chí mới nhằm vươn lên những đỉnh cao mới.

Khi nói về lễ Hiển Linh, chúng ta nghĩ ngay lễ này là lễ ánh sang – chính Chúa là ánh sáng chiếu soi cho nhân loại. trong ngôn ngữ thần học thì đây là lễ Chúa tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ, hay còn gọi là lễ Giáng Sinh cho dân ngoại. Quả thế, lễ Hiển Linh, đó là ngày Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, mà đại diện là ba nhà đạo sĩ phương đông, để thực hiện lời ngôn sứ đã loan báo: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài» (Mt 8,11-12).

Ánh sáng – và bóng tối, hai thực tại đối lập. Là người kitô, nghĩa là người được mời gọi bước đi trong ánh sáng: «Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi» (Tv 119, 105). Hơn nữa, người kitô hữu còn được Thiên Chúa mời gọi: «Các con là ánh sáng cho trần gian» (Mt 5, 14), nghĩa là người được Chúa dẫn đường soi lối, sống gắn bó với Chúa để có thể giới thiệu Chúa cho mọi người, để «ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời» (Mt 5, 15-16).

Mừng lễ Chúa Hiển Linh là cơ hội giúp ta nhìn lại chính mình. Nếu ta đang đi trong bóng tối của gian dối, hận thù, thì hãy đứng lên, trở về với ánh sáng của lòng chân thành, phục vụ và yêu thương. Nếu thế giới đang chìm đắm trong bóng tối của buồn phiền, thất vọng thì ta hãy là những ánh sao của niềm vui, an bình và hy vọng. Bóng tối là nơi quyền lực sự dữ đang hoành hành, nhưng ta đừng nguyền rủa bóng tối, mà hãy dấn thân để thắp lên những ngọn nến sáng của tin yêu và hy vọng, của bác ái và vị tha, để cả trái đất này tràn ngập ánh sáng tình yêu Chúa.

Ơn gọi người kitô hữu là đoạn đường dài tiếp bước hành trình của các nhà đạo sĩ. Đó là hành trình của đức tin đầy gian nan và thử thách. Có những lúc vui vẻ bước đi trong ánh sáng của ngôi sao dẫn đường, nhưng cũng có lúc bóng tối bao phủ khắp mọi nẻo đường khi ngôi sao biến mất. Ánh sao lạ lung linh trên bầu trời năm xưa đã dẫn ba nhà Đạo sĩ Đông Phương đến Bêlem để tìm gặp Hài Đồng Giêsu, Đấng Cứu Thế mới sinh ra. Ánh sao ấy vẫn đang dẫn chúng ta trên vạn nẻo đường để gặp Chúa Giêsu. Hơn nữa chính Người còn là ánh sao dẫn đường chúng ta đi. Điều kiện duy nhất để thấy ánh sao là phải đứng lên, ngẩng cao đầu, hướng nhìn về phía ánh sáng, để đón nhận ánh sáng và đồng thời phản chiếu ánh sáng ấy cho mọi người.

Lm. Quốc Bảo

Lễ Hiển Linh, năm A - «ÁNH SÁNG»

Lễ Hiển Linh, năm A
«ÁNH SÁNG»

Bài đọc 1: Isaia 60, 1-6
Bài đọc 2: Êphêsô 3, 2-3a.5-6
Tin Mừng: Matthêu 2, 1-12

«Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước» (cc. 1-3 – Bài đọc I).


Qua những lời kêu gọi đầy hân hoan này, Isaia như cho biết những điều mà ông tiên báo 600 năm trước đã gần như trở thành hiện thực: «Dân đang lần bước giữa tăm tối sẽ được nhìn thấy ánh sáng huy hoàng» (Is 9,1). Đó là thứ ánh sáng giúp dân Dothái thấy được một tương lai rực rỡ, một tương lai không còn cảnh nộ lệ khổ đau. Ánh sáng ấy là «Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi», trên dân tộc Dothái đã bao đời phải lầm lũi bước đi trong cảnh lưu đày. Thực tế là người Dothái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ nhiều thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh: «Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel» (Ds 24, 17), và ngôn sứ Mikha cũng đã tiên báo: «Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel» (Mk 5,1).

Trong nhãn quan của ngôn sứ I-sai-a, Giêrusalem không còn là thủ đô của dân tộc nhỏ bé Israel nữa, nhưng nó đã trở nên "thành đô của Thiên Chúa" và là trung tâm cứu độ của toàn thể thế giới, bởi nó đã được mặt trời công chính ngự đến. Giêrusalem đã được chọn làm nơi "vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa". Vì thế ngôn sứ kêu gọi Giêrusalem hãy đứng cao lên để toàn thế giới nhận được ánh bình minh của Đức Chúa. Giêrusalem sẽ chứng kiến tầm quan trọng của nó vì nó trở nên nguồn sáng lôi cuốn và hướng dẫn toàn nhân loại đến một vương quốc mới.

Đó là lời tiên tri Isaia loan báo về tương lai huy hoàng của Giêrusalem. Giêrusalem có được như vậy, được trở thành trung tâm của muôn dân đổ dồn về đó là vì nhờ Giêrusalem có Thiên Chúa hiện diện ở giữa. Không có Thiên Chúa hiện diện thì Giêrusalem vẫn chỉ như bao thành khác. Ánh sáng mà Giêrusalem nhận được từ Chúa đã chiếu soi muôn người, ánh sáng đó lôi kéo tất cả mọi người, không trừ một ai đến với Chúa. Giêrusalem ngày xưa trở thành hình ảnh của Giáo Hội ngày nay, vì Giáo Hội là nơi qui tụ tất cả mọi dân tộc.

Lời tiên tri Isaia loan báo về tương lai huy hoàng cho Giêrusalem được ứng nghiệm trong biến cố các vua từ Phương Đông tìm đến Vua dân Do Thái mới sinh đã được thánh sử Matthêu ghi lại trong bài tin mừng. Tuy nhiên, có một sự thật trớ trêu: là khi vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ đợi chờ, dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm, các thượng tế và kinh sư thì dửng dưng thụ động, cho dù họ thông thạo Kinh Thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế. Hêrôđê lại còn hoảng hốt vì sợ ngai vàng của mình bị lung lay. Chỉ có các đạo sĩ đại diện cho lương dân lại hăng hái lên đường, hăm hở tìm kiếm, cho dù cuộc kiếm tìm đầy phiêu lưu trắc trở. Đó là toàn bộ bối cảnh của ngày Lễ Hiển Linh.

Lễ Hiển Linh, trước đây thường được gọi là lễ Ba Vua. Nếu "Ba Vua" là tên gọi nói lên thiện chí của con người tìm gặp Thiên Chúa, thì "Hiển Linh" là danh xưng khẳng định ân ban của Thiên Chúa, vì chính Người tỏ mình ra cho nhân loại. Thiện chí thôi, vẫn chỉ là khởi điểm; nhưng chính ân ban mới là kết điểm mở ra những mùa gặp gỡ. Như thế, mỗi tên gọi có những điểm nhấn riêng, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một mầu nhiệm của cuộc gặp gỡ mà Thiên Chúa từ bao thuở đã mở ra cho những kẻ khao khát đi tìm. Do đó, đây không chỉ là một biến cố của ngày đã qua, mà còn là một sứ điệp của ngày hôm nay và cho những ngày sẽ tới. Chúa vẫn tỏ mình, nhưng vấn đề là người ta có thiện chí đến gặp Người hay không. Và tới phiên mình, mỗi lần gặp gỡ tại kết điểm hành trình, lại là một khởi điểm mới cho hành trình tìm kiếm mới, với những thiện chí mới nhằm vươn lên những đỉnh cao mới.

Khi nói về lễ Hiển Linh, chúng ta nghĩ ngay lễ này là lễ ánh sang – chính Chúa là ánh sáng chiếu soi cho nhân loại. trong ngôn ngữ thần học thì đây là lễ Chúa tỏ mình ra cho các Đạo Sĩ, hay còn gọi là lễ Giáng Sinh cho dân ngoại. Quả thế, lễ Hiển Linh, đó là ngày Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, mà đại diện là ba nhà đạo sĩ phương đông, để thực hiện lời ngôn sứ đã loan báo: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài» (Mt 8,11-12).

Ánh sáng – và bóng tối, hai thực tại đối lập. Là người kitô, nghĩa là người được mời gọi bước đi trong ánh sáng: «Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi» (Tv 119, 105). Hơn nữa, người kitô hữu còn được Thiên Chúa mời gọi: «Các con là ánh sáng cho trần gian» (Mt 5, 14), nghĩa là người được Chúa dẫn đường soi lối, sống gắn bó với Chúa để có thể giới thiệu Chúa cho mọi người, để «ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời» (Mt 5, 15-16).

Mừng lễ Chúa Hiển Linh là cơ hội giúp ta nhìn lại chính mình. Nếu ta đang đi trong bóng tối của gian dối, hận thù, thì hãy đứng lên, trở về với ánh sáng của lòng chân thành, phục vụ và yêu thương. Nếu thế giới đang chìm đắm trong bóng tối của buồn phiền, thất vọng thì ta hãy là những ánh sao của niềm vui, an bình và hy vọng. Bóng tối là nơi quyền lực sự dữ đang hoành hành, nhưng ta đừng nguyền rủa bóng tối, mà hãy dấn thân để thắp lên những ngọn nến sáng của tin yêu và hy vọng, của bác ái và vị tha, để cả trái đất này tràn ngập ánh sáng tình yêu Chúa.

Ơn gọi người kitô hữu là đoạn đường dài tiếp bước hành trình của các nhà đạo sĩ. Đó là hành trình của đức tin đầy gian nan và thử thách. Có những lúc vui vẻ bước đi trong ánh sáng của ngôi sao dẫn đường, nhưng cũng có lúc bóng tối bao phủ khắp mọi nẻo đường khi ngôi sao biến mất. Ánh sao lạ lung linh trên bầu trời năm xưa đã dẫn ba nhà Đạo sĩ Đông Phương đến Bêlem để tìm gặp Hài Đồng Giêsu, Đấng Cứu Thế mới sinh ra. Ánh sao ấy vẫn đang dẫn chúng ta trên vạn nẻo đường để gặp Chúa Giêsu. Hơn nữa chính Người còn là ánh sao dẫn đường chúng ta đi. Điều kiện duy nhất để thấy ánh sao là phải đứng lên, ngẩng cao đầu, hướng nhìn về phía ánh sáng, để đón nhận ánh sáng và đồng thời phản chiếu ánh sáng ấy cho mọi người.

Lm. Quốc Bảo
Đọc thêm..






Khi nói đến tình yêu và sự hy sinh của một người mẹ, cha ông ta đã nói rằng:
“Ðố ai đếm được lá rừng,
Ðố ai đếm được mấy từng trời cao
Ðố ai đếm được những vì sao,
Ðố ai đếm được công lao mẫu từ”.
Thế nhưng, lá cây trong rừng dẫu nhiều cũng không thể sánh bằng công ơn của mẹ. Sao trên trời thật khó đếm, nhưng công ơn của mẹ lại càng khó đếm hơn những vì sao.
Người mẹ đã “mang nặng đẻ đau”, chịu nhiều hy sinh thiệt thòi cho con cái khôn lớn chẳng hạn như: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, sinh lực hao mòn, nặng nhọc gánh chịu, làm sao ta có thể quên được tình mẹ bao la như biển cả ấy:
“Nhớ ơn chín chữ cù lao
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình”.
Tình ở đây là tình mẹ thương con. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm nồng ấm, bình an:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời”.
Vâng, tình yêu của mẹ là tình yêu cao vời trên chín tầng mây và mênh mông như biển cả thái bình. Có lẽ chẳng có bút mực nào có thể kể hết những công lao, những hy sinh người mẹ đã phải chịu từ khi cưu mang cho đến khi nuôi con khôn lớn:
- Chim trời ai dễ đếm lông,Nuôi con ai nỡ kể công tháng ngày.
- Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công ơn mẫu từ.
Vì thế, trong đạo hiếu làm con, và những ai có lương tri đều hiểu rất rõ và sâu xa câu ca dao nói về tình mẹ: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Để dù là ai đi chăng nữa, khi đã lớn khôn và thành gia thất họ đều cảm nghiệm rất rõ điều mà người ta nói về mẹ:
“Con đi trọn kiếp con ngườiCũng không qua nổi những lời mẹ ru
Mẹ Maria với vai trò của một người mẹ, Mẹ cũng nếm trải những gian truân qua từng giai đoạn lớn khôn của con của Mẹ. Mẹ đã sinh ra Chúa trong thiếu thốn tư bề. Mẹ cũng lo lắng cho sự an nguy của con khi bạo chúa tìm cách giết con Mẹ. Mẹ cũng “thức trọn năm canh” để lo cho con ngủ trong lúc giá rét mùa đông và trong khi chạy tị nạn bên Ai – Cập. Mẹ luôn sát cánh bên con không chỉ giai đoạn tuổi thơ mà cả khi khôn lớn. Mẹ luôn đồng hành với con yêu quý. Mẹ cũng từng bôn ba tìm con khi trẻ thơ bị lạc trong đền thờ. Mẹ đã đi sát bên Chúa qua đỉnh đồi Calve để cùng hiệp thông đau khổ cứu độ trần gian.
Có lẽ, hiểu được tấm lòng của Mẹ và vai trò của Mẹ nên Chúa Giê-su trước khi kết thúc tháng ngày dương gian, Ngài đã trao ban Mẹ Maria cho nhân loại chúng ta. Qua Gioan, Chúa Giê-su muốn gởi gắm nhân loại qua bàn tay chăm sóc của Mẹ Maria. Từ nay Mẹ Maria nhận chúng sinh là con của Mẹ. Mẹ tiếp tục đồng hành với các con của Mẹ qua mọi thời đại. Mẹ sẽ lo liệu cho con cái của Mẹ luôn no đầy ân phúc bởi trời. Mẹ sẽ luôn cùng chúng sinh đi qua những đỉnh đồi của thương đau trong kiếp sống nhân trần.
Điều này Mẹ đã thể hiện qua những lần Mẹ hiện ra trên khắp thế giới. Nơi nào có chiến tranh, ly tán. Mẹ hiện ra để hoà giải và quy tụ con cái trở về. Nơi nào có bách hại. Mẹ sẽ hiện đến để bảo vệ, chở che. Nơi nào có khóc lóc thở than. Mẹ sẽ hiện diện để ủi an nâng đỡ. Nơi nào thiếu thốn tư bề. Mẹ sẽ ngự trị ban cho cuộc sống phồn vinh.
Có thể nói, người mẹ trần thế hay người Mẹ thiên quốc đều là bảo ngọc châu báu mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Không có Mẹ con cái sẽ không thể lớn nổi thành người. Không có mẹ con cái sẽ thiếu đi hơi ấm của tình thương. Vì thế, nếu trong đời sống thể lý khi con mất Mẹ là một mất mát vô cùng to lớn thì trong đời sống thiêng liêng cũng thật bất hạnh cho những ai lạc xa mất Mẹ. Hiểu được giá trị của Mẹ, nữ thi sĩ Xuân Tâm đã trải lòng mình qua bài thơ “Mất Mẹ” mà chính tác giả đã trải qua như sau:
“Năm xưa tôi còn nhỏ,
Mẹ tôi đã qua đời.
Lần đầu tiên tôi hiểu,
Thân phận kẻ mồ côi”.
“Quanh tôi ai cũng khóc,
Im lặng tôi sầu thôi,
Để dòng nước mắt chảy,
Là bớt khổ đi rồi…”.
“Độ nhỏ tôi không tin,
Người thân tôi sẽ mất
Hôm ấy tôi sững sờ
Và nghi ngờ trời đất”.
“Từ nay tôi hết thấy
Trên trán mẹ hôn con
Những khi con phải đòn
Đau lòng mẹ la lẫy”.
“Kìa nhà ai sung sướng
Mẹ con vỗ về nhau
Tìm mẹ con không có
Khi buồn biết trốn đâu”.
Hoàng hôn phủ trên mộ,
Chuông chùa lạnh rơi rơi,
Tôi thấy tôi mất mẹ,
Mất cả một bầu trời!”.
Hôm nay lễ Mẹ Thiên Chúa, là dịp nhắc nhở chúng con có một người Mẹ trên thiên quốc. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa nhưng cũng được Chúa ban Mẹ cho chúng ta. Cuộc đời chúng ta không bao giờ vắng Mẹ. Vui buồn sướng khổ trong cuộc đời chúng ta luôn có Mẹ. Mẹ luôn theo sát chúng ta trong từng khó nguy dòng đời. Mẹ cùng chúng ta đi qua những thăng trầm của dòng đời. Chúng ta hãy cám ơn Mẹ đã thương nhận chúng ta làm con của mẹ. Chúng ta cám ơn Mẹ đã luôn bảo vệ chở che cho từng người chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ để lạc mất Mẹ, nhưng luôn bám vào tà áo Mẹ để được nâng đỡ ủi an.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã từng bao bọc chở che cho Ngôi Hai Thiên Chúa. Xin Mẹ cũng đoái thương đến từng người chúng con. Xin Mẹ luôn bảo vệ và nâng đỡ chúng con. Xin cho chúng con luôn chạy đến cùng Mẹ, luôn kêu cầu Mẹ: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con hôm nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nguồn chuacuuthe.com

Mẹ Maria Mẹ của chúng sinh







Khi nói đến tình yêu và sự hy sinh của một người mẹ, cha ông ta đã nói rằng:
“Ðố ai đếm được lá rừng,
Ðố ai đếm được mấy từng trời cao
Ðố ai đếm được những vì sao,
Ðố ai đếm được công lao mẫu từ”.
Thế nhưng, lá cây trong rừng dẫu nhiều cũng không thể sánh bằng công ơn của mẹ. Sao trên trời thật khó đếm, nhưng công ơn của mẹ lại càng khó đếm hơn những vì sao.
Người mẹ đã “mang nặng đẻ đau”, chịu nhiều hy sinh thiệt thòi cho con cái khôn lớn chẳng hạn như: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, sinh lực hao mòn, nặng nhọc gánh chịu, làm sao ta có thể quên được tình mẹ bao la như biển cả ấy:
“Nhớ ơn chín chữ cù lao
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình”.
Tình ở đây là tình mẹ thương con. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm nồng ấm, bình an:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời”.
Vâng, tình yêu của mẹ là tình yêu cao vời trên chín tầng mây và mênh mông như biển cả thái bình. Có lẽ chẳng có bút mực nào có thể kể hết những công lao, những hy sinh người mẹ đã phải chịu từ khi cưu mang cho đến khi nuôi con khôn lớn:
- Chim trời ai dễ đếm lông,Nuôi con ai nỡ kể công tháng ngày.
- Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công ơn mẫu từ.
Vì thế, trong đạo hiếu làm con, và những ai có lương tri đều hiểu rất rõ và sâu xa câu ca dao nói về tình mẹ: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Để dù là ai đi chăng nữa, khi đã lớn khôn và thành gia thất họ đều cảm nghiệm rất rõ điều mà người ta nói về mẹ:
“Con đi trọn kiếp con ngườiCũng không qua nổi những lời mẹ ru
Mẹ Maria với vai trò của một người mẹ, Mẹ cũng nếm trải những gian truân qua từng giai đoạn lớn khôn của con của Mẹ. Mẹ đã sinh ra Chúa trong thiếu thốn tư bề. Mẹ cũng lo lắng cho sự an nguy của con khi bạo chúa tìm cách giết con Mẹ. Mẹ cũng “thức trọn năm canh” để lo cho con ngủ trong lúc giá rét mùa đông và trong khi chạy tị nạn bên Ai – Cập. Mẹ luôn sát cánh bên con không chỉ giai đoạn tuổi thơ mà cả khi khôn lớn. Mẹ luôn đồng hành với con yêu quý. Mẹ cũng từng bôn ba tìm con khi trẻ thơ bị lạc trong đền thờ. Mẹ đã đi sát bên Chúa qua đỉnh đồi Calve để cùng hiệp thông đau khổ cứu độ trần gian.
Có lẽ, hiểu được tấm lòng của Mẹ và vai trò của Mẹ nên Chúa Giê-su trước khi kết thúc tháng ngày dương gian, Ngài đã trao ban Mẹ Maria cho nhân loại chúng ta. Qua Gioan, Chúa Giê-su muốn gởi gắm nhân loại qua bàn tay chăm sóc của Mẹ Maria. Từ nay Mẹ Maria nhận chúng sinh là con của Mẹ. Mẹ tiếp tục đồng hành với các con của Mẹ qua mọi thời đại. Mẹ sẽ lo liệu cho con cái của Mẹ luôn no đầy ân phúc bởi trời. Mẹ sẽ luôn cùng chúng sinh đi qua những đỉnh đồi của thương đau trong kiếp sống nhân trần.
Điều này Mẹ đã thể hiện qua những lần Mẹ hiện ra trên khắp thế giới. Nơi nào có chiến tranh, ly tán. Mẹ hiện ra để hoà giải và quy tụ con cái trở về. Nơi nào có bách hại. Mẹ sẽ hiện đến để bảo vệ, chở che. Nơi nào có khóc lóc thở than. Mẹ sẽ hiện diện để ủi an nâng đỡ. Nơi nào thiếu thốn tư bề. Mẹ sẽ ngự trị ban cho cuộc sống phồn vinh.
Có thể nói, người mẹ trần thế hay người Mẹ thiên quốc đều là bảo ngọc châu báu mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Không có Mẹ con cái sẽ không thể lớn nổi thành người. Không có mẹ con cái sẽ thiếu đi hơi ấm của tình thương. Vì thế, nếu trong đời sống thể lý khi con mất Mẹ là một mất mát vô cùng to lớn thì trong đời sống thiêng liêng cũng thật bất hạnh cho những ai lạc xa mất Mẹ. Hiểu được giá trị của Mẹ, nữ thi sĩ Xuân Tâm đã trải lòng mình qua bài thơ “Mất Mẹ” mà chính tác giả đã trải qua như sau:
“Năm xưa tôi còn nhỏ,
Mẹ tôi đã qua đời.
Lần đầu tiên tôi hiểu,
Thân phận kẻ mồ côi”.
“Quanh tôi ai cũng khóc,
Im lặng tôi sầu thôi,
Để dòng nước mắt chảy,
Là bớt khổ đi rồi…”.
“Độ nhỏ tôi không tin,
Người thân tôi sẽ mất
Hôm ấy tôi sững sờ
Và nghi ngờ trời đất”.
“Từ nay tôi hết thấy
Trên trán mẹ hôn con
Những khi con phải đòn
Đau lòng mẹ la lẫy”.
“Kìa nhà ai sung sướng
Mẹ con vỗ về nhau
Tìm mẹ con không có
Khi buồn biết trốn đâu”.
Hoàng hôn phủ trên mộ,
Chuông chùa lạnh rơi rơi,
Tôi thấy tôi mất mẹ,
Mất cả một bầu trời!”.
Hôm nay lễ Mẹ Thiên Chúa, là dịp nhắc nhở chúng con có một người Mẹ trên thiên quốc. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa nhưng cũng được Chúa ban Mẹ cho chúng ta. Cuộc đời chúng ta không bao giờ vắng Mẹ. Vui buồn sướng khổ trong cuộc đời chúng ta luôn có Mẹ. Mẹ luôn theo sát chúng ta trong từng khó nguy dòng đời. Mẹ cùng chúng ta đi qua những thăng trầm của dòng đời. Chúng ta hãy cám ơn Mẹ đã thương nhận chúng ta làm con của mẹ. Chúng ta cám ơn Mẹ đã luôn bảo vệ chở che cho từng người chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ để lạc mất Mẹ, nhưng luôn bám vào tà áo Mẹ để được nâng đỡ ủi an.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã từng bao bọc chở che cho Ngôi Hai Thiên Chúa. Xin Mẹ cũng đoái thương đến từng người chúng con. Xin Mẹ luôn bảo vệ và nâng đỡ chúng con. Xin cho chúng con luôn chạy đến cùng Mẹ, luôn kêu cầu Mẹ: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con hôm nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nguồn chuacuuthe.com
Đọc thêm..



Lễ Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa


Tình Mẫu Tử (Lễ Mẹ Thiên Chúa)
                                                                                     Trầm Thiên Thu
Tình Mẫu Tử luôn kỳ diệu, không ai có thể hiểu hết. Thiên Chúa đã trao cho phụ nữ một thiên chức cao cả: Làm Mẹ. Đứa con dù tật nguyền, xấu xí, tội lỗi, thậm chí là xử tệ với mình, nhưng người mẹ vẫn hết lòng vì con đến nỗi có thể xả thân mình để con được an toàn. Tất nhiên người cha cũng thế, nhưng người cha thâm trầm nên thường ít được nhắc tới. Ca dao Việt Nam ví von:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con
Công ơn cha mẹ khôn ví, thế nên người con cũng phải có bổn phận với song thân và hết lòng vì các ngài, vậy mới xứng đáng mang danh con người. Trong kinh Tâm Địa Quán của Phật giáo cũng có nói về công ơn cha mẹ và bổn phận con cái đối với song thân phụ mẫu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi
Dù cho dâng trọn một đời
Cũng không trả hết ân người sanh ta
Bổn phận làm con phải biết hiếu kính với cha mẹ đã được thấm nhuần từ xa xưa của tổ tiên ông bà để lại cho ngày nay. Thiên Chúa cũng đề cao thiên chức làm cha và làm mẹ. Chính Chúa Giêsu cũng đã nêu gương hiếu thảo trong suốt cuộc đời Ngài khi làm người trên dương thế.
Nói theo quan niệm con người, nếu xét về Âm Dương tức là Trời Đất, thì người Cha là Dương và người Mẹ là Âm, giống như ngày và đêm hài hòa Âm Dương, hoặc nói cách khác, nếu không có Thiên Địa (Trời Đất) thì không thể có con người. Thật vậy, nếu không nhờ “cha sinh, mẹ dưỡng” thì chúng ta không thể hiện hữu trên cõi đời này. Còn nói về tâm linh, chính Thiên Chúa mới là Tạo Hóa, là Đấng tác tạo chúng ta: “Đức Chúa, Đấng tạo thành ngươi, Đấng cứu chuộc ngươi, Đấng nắn ra ngươi từ khi ngươi còn trong lòng mẹ” (Is 44:2 & 24).
Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em! Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6:23-27).
Đó là lời chúc bình an dành cho những người con hiếu thảo của Thiên Chúa. Người cha và người mẹ là con cái của Thiên Chúa, những người con vừa là con cái của Thiên Chúa vừa là con cái của cha mẹ phần đời. Bất cứ người con nào ngoan ngoãn và hiếu thảo đều được Thiên Chúa chúc lành.
Con người quá yếu đuối và dễ kiêu ngạo, làm gì cũng phải nhờ ơn Chúa, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì, sảy một giây thôi thì chúng ta lại sa ngã ngay, vì thế mà luôn phải cầu nguyện: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài” (Tv 67:2-3).
Tác giả Thánh vịnh mơ ước, và cũng phải là mơ ước của chúng ta: “Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này” (Tv 67:5-6). Đó cũng là một cách truyền giáo, là thể hiện lòng tín thác vào Thiên Chúa và sống đức tin Kitô giáo. Niềm vui khôn tả khi được tôn thờ và xưng tụng Thiên Chúa, nhưng niềm vui đó không chỉ dành riêng cho mình mà còn phải lan tỏa sang mọi người: “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!” (Tv 67:7-8).
Thời gian đang tới hồi viên mãn, nghĩa là chúng ta đang sống trong thời cánh chung. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5). Ngôi Hai Thiên Chúa đã mặc xác phàm, làm con một phụ nữ, ở giữa chúng ta, và cũng theo luật pháp của một đất nước như chúng ta. Thật may mắn và hạnh phúc cho chúng ta biết bao, vì Chúa Giêsu làm như vậy là coi chúng ta vừa là con cái vừa là huynh đệ.
Thật vậy, Ngài đã chứng thực chúng ta là con cái, như Thánh Phaolô giải thích: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4:6). Chúng ta chỉ là những tội nhân khốn nạn, thế mà được quyền gọi Thiên Chúa là Cha. Còn vinh dự nào hơn? Còn hạnh phúc nào bằng? Vì thế, chúng ta “không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4:7). Quả thật, không còn ngôn từ nào để diễn tả hết ý nghĩa và cũng chẳng có cách nào để có thể tạ ơn Thiên Chúa một cách trọn vẹn.
Được có cha mẹ, làm con cái của người phàm mà cả đời chúng ta còn chưa đủ để đáp đền công ơn đó, huống chi đối với Thiên Chúa, Đấng không chỉ đã ban cho chúng ta cả hồn lẫn xác, mà còn nhận chúng ta là con cái và chấp nhận kiếp người để cứu độ chúng ta.
Thánh sử Luca kể vắn tắt: “Các mục đồng hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Đơn giản chỉ có vậy, nhưng khi họ thấy thế, họ đã tin Hài Nhi nằm trên máng cỏ kia thực sự là Con Thiên Chúa, và rồi họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Họ đã truyền giáo, đã sống tinh thần Phúc âm.
Mục đồng là những người chăn chiên thuê, ít học, chân chất, có sao nói vậy, không biết “buôn chuyện”, không biết “đặt điều” hoặc khoác lác. Thế nên khi nghe họ thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Lạ là những người này cũng tin, chắc chắn lời kể của các mục đồng kia phải toát lên sự chân thật.
Còn Đức Maria chẳng biết nói gì hơn, chỉ “ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19). Trái tim người mẹ luôn nhạy bén, linh tính người mẹ cũng rất chính xác, Đức Mẹ biết rõ Con Trẻ Giêsu ngày mai sẽ thế nào.
Các người chăn chiên ra về, họ quá đỗi vui mừng, đến nỗi họ “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (Lc 2:20). Các mục đồng thật là được đại phúc, vì được tận mắt nhìn thấy Con Thiên Chúa, được “nựng” Chúa Hài Đồng, nhưng họ còn có phúc hơn vì họ đã thật lòng tin Em Bé Giêsu đang ngọ nguậy kia là Vương Nhi giáng sinh từ Trời, là Thiên Tử đích thực.
Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì theo quốc luật Israel, Cô Maria và Chú Giuse đã đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu, đúng tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.
Thiên chức làm mẹ cao cả nhưng cũng đầy gian khổ, người mẹ nào cũng đã từng mắt lệ nhạt nhòa vì con mình, dù đứa con đó là trai hay gái. Trong mắt mẹ, đứa con nào cũng vẫn còn bé bỏng, đúng như thi sĩ Chế Lan Viên (Phan Ngọc Hoan, 1920-1989) đã cảm nhận về Tình Mẹ qua bài thơ “Con Cò”, với hai câu đầy ý nghĩa:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con
Tình Mẫu Tử thật kỳ diệu, chúng ta có đi hết cuộc đời cũng không thể đi hết những lời mẹ ru… Có mẹ và còn mẹ, thật là hạnh phúc; mất mẹ, thật là bất hạnh!
Ngày lễ Mẹ Thiên Chúa cũng là Ngày Hòa bình Thế giới. Hòa bình luôn là niềm khao khát cháy bỏng của mọi người, dù lương hay giáo: Hòa bình trong tâm hồn, hòa bình trong gia đình, hòa bình trong các mối quan hệ, hòa bình trong cộng đồng, hòa bình giữa các quốc gia, hòa bình giữa các tôn giáo,… Muốn có hòa bình thì cần tôn trọng công lý, và đó mới là niềm hạnh phúc với sự bình an đích thực.
Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, xin giúp chúng con biết thảo hiếu với cha mẹ đúng như Thánh Luật Ngài; xin nâng đỡ các bậc sinh thành trong thiên chức cao cả mà Chúa đã trao; xin ban cho chúng con nền hòa bình đích thực qua việc thể hiện công lý. Chúng con cầu xin nhân Danh Chúa Hài Đồng, Đấng Thiên Sai cứu độ chúng con. Amen. 

Lễ Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa




Lễ Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa


Tình Mẫu Tử (Lễ Mẹ Thiên Chúa)
                                                                                     Trầm Thiên Thu
Tình Mẫu Tử luôn kỳ diệu, không ai có thể hiểu hết. Thiên Chúa đã trao cho phụ nữ một thiên chức cao cả: Làm Mẹ. Đứa con dù tật nguyền, xấu xí, tội lỗi, thậm chí là xử tệ với mình, nhưng người mẹ vẫn hết lòng vì con đến nỗi có thể xả thân mình để con được an toàn. Tất nhiên người cha cũng thế, nhưng người cha thâm trầm nên thường ít được nhắc tới. Ca dao Việt Nam ví von:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con
Công ơn cha mẹ khôn ví, thế nên người con cũng phải có bổn phận với song thân và hết lòng vì các ngài, vậy mới xứng đáng mang danh con người. Trong kinh Tâm Địa Quán của Phật giáo cũng có nói về công ơn cha mẹ và bổn phận con cái đối với song thân phụ mẫu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi
Dù cho dâng trọn một đời
Cũng không trả hết ân người sanh ta
Bổn phận làm con phải biết hiếu kính với cha mẹ đã được thấm nhuần từ xa xưa của tổ tiên ông bà để lại cho ngày nay. Thiên Chúa cũng đề cao thiên chức làm cha và làm mẹ. Chính Chúa Giêsu cũng đã nêu gương hiếu thảo trong suốt cuộc đời Ngài khi làm người trên dương thế.
Nói theo quan niệm con người, nếu xét về Âm Dương tức là Trời Đất, thì người Cha là Dương và người Mẹ là Âm, giống như ngày và đêm hài hòa Âm Dương, hoặc nói cách khác, nếu không có Thiên Địa (Trời Đất) thì không thể có con người. Thật vậy, nếu không nhờ “cha sinh, mẹ dưỡng” thì chúng ta không thể hiện hữu trên cõi đời này. Còn nói về tâm linh, chính Thiên Chúa mới là Tạo Hóa, là Đấng tác tạo chúng ta: “Đức Chúa, Đấng tạo thành ngươi, Đấng cứu chuộc ngươi, Đấng nắn ra ngươi từ khi ngươi còn trong lòng mẹ” (Is 44:2 & 24).
Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em! Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6:23-27).
Đó là lời chúc bình an dành cho những người con hiếu thảo của Thiên Chúa. Người cha và người mẹ là con cái của Thiên Chúa, những người con vừa là con cái của Thiên Chúa vừa là con cái của cha mẹ phần đời. Bất cứ người con nào ngoan ngoãn và hiếu thảo đều được Thiên Chúa chúc lành.
Con người quá yếu đuối và dễ kiêu ngạo, làm gì cũng phải nhờ ơn Chúa, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì, sảy một giây thôi thì chúng ta lại sa ngã ngay, vì thế mà luôn phải cầu nguyện: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài” (Tv 67:2-3).
Tác giả Thánh vịnh mơ ước, và cũng phải là mơ ước của chúng ta: “Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này” (Tv 67:5-6). Đó cũng là một cách truyền giáo, là thể hiện lòng tín thác vào Thiên Chúa và sống đức tin Kitô giáo. Niềm vui khôn tả khi được tôn thờ và xưng tụng Thiên Chúa, nhưng niềm vui đó không chỉ dành riêng cho mình mà còn phải lan tỏa sang mọi người: “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!” (Tv 67:7-8).
Thời gian đang tới hồi viên mãn, nghĩa là chúng ta đang sống trong thời cánh chung. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:4-5). Ngôi Hai Thiên Chúa đã mặc xác phàm, làm con một phụ nữ, ở giữa chúng ta, và cũng theo luật pháp của một đất nước như chúng ta. Thật may mắn và hạnh phúc cho chúng ta biết bao, vì Chúa Giêsu làm như vậy là coi chúng ta vừa là con cái vừa là huynh đệ.
Thật vậy, Ngài đã chứng thực chúng ta là con cái, như Thánh Phaolô giải thích: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4:6). Chúng ta chỉ là những tội nhân khốn nạn, thế mà được quyền gọi Thiên Chúa là Cha. Còn vinh dự nào hơn? Còn hạnh phúc nào bằng? Vì thế, chúng ta “không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4:7). Quả thật, không còn ngôn từ nào để diễn tả hết ý nghĩa và cũng chẳng có cách nào để có thể tạ ơn Thiên Chúa một cách trọn vẹn.
Được có cha mẹ, làm con cái của người phàm mà cả đời chúng ta còn chưa đủ để đáp đền công ơn đó, huống chi đối với Thiên Chúa, Đấng không chỉ đã ban cho chúng ta cả hồn lẫn xác, mà còn nhận chúng ta là con cái và chấp nhận kiếp người để cứu độ chúng ta.
Thánh sử Luca kể vắn tắt: “Các mục đồng hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Đơn giản chỉ có vậy, nhưng khi họ thấy thế, họ đã tin Hài Nhi nằm trên máng cỏ kia thực sự là Con Thiên Chúa, và rồi họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Họ đã truyền giáo, đã sống tinh thần Phúc âm.
Mục đồng là những người chăn chiên thuê, ít học, chân chất, có sao nói vậy, không biết “buôn chuyện”, không biết “đặt điều” hoặc khoác lác. Thế nên khi nghe họ thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Lạ là những người này cũng tin, chắc chắn lời kể của các mục đồng kia phải toát lên sự chân thật.
Còn Đức Maria chẳng biết nói gì hơn, chỉ “ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19). Trái tim người mẹ luôn nhạy bén, linh tính người mẹ cũng rất chính xác, Đức Mẹ biết rõ Con Trẻ Giêsu ngày mai sẽ thế nào.
Các người chăn chiên ra về, họ quá đỗi vui mừng, đến nỗi họ “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (Lc 2:20). Các mục đồng thật là được đại phúc, vì được tận mắt nhìn thấy Con Thiên Chúa, được “nựng” Chúa Hài Đồng, nhưng họ còn có phúc hơn vì họ đã thật lòng tin Em Bé Giêsu đang ngọ nguậy kia là Vương Nhi giáng sinh từ Trời, là Thiên Tử đích thực.
Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì theo quốc luật Israel, Cô Maria và Chú Giuse đã đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu, đúng tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.
Thiên chức làm mẹ cao cả nhưng cũng đầy gian khổ, người mẹ nào cũng đã từng mắt lệ nhạt nhòa vì con mình, dù đứa con đó là trai hay gái. Trong mắt mẹ, đứa con nào cũng vẫn còn bé bỏng, đúng như thi sĩ Chế Lan Viên (Phan Ngọc Hoan, 1920-1989) đã cảm nhận về Tình Mẹ qua bài thơ “Con Cò”, với hai câu đầy ý nghĩa:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con
Tình Mẫu Tử thật kỳ diệu, chúng ta có đi hết cuộc đời cũng không thể đi hết những lời mẹ ru… Có mẹ và còn mẹ, thật là hạnh phúc; mất mẹ, thật là bất hạnh!
Ngày lễ Mẹ Thiên Chúa cũng là Ngày Hòa bình Thế giới. Hòa bình luôn là niềm khao khát cháy bỏng của mọi người, dù lương hay giáo: Hòa bình trong tâm hồn, hòa bình trong gia đình, hòa bình trong các mối quan hệ, hòa bình trong cộng đồng, hòa bình giữa các quốc gia, hòa bình giữa các tôn giáo,… Muốn có hòa bình thì cần tôn trọng công lý, và đó mới là niềm hạnh phúc với sự bình an đích thực.
Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, xin giúp chúng con biết thảo hiếu với cha mẹ đúng như Thánh Luật Ngài; xin nâng đỡ các bậc sinh thành trong thiên chức cao cả mà Chúa đã trao; xin ban cho chúng con nền hòa bình đích thực qua việc thể hiện công lý. Chúng con cầu xin nhân Danh Chúa Hài Đồng, Đấng Thiên Sai cứu độ chúng con. Amen. 

Đọc thêm..