Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!
Chao ôi! mong nhớ ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

Chế Lan Viên
(BG - sưu tầm)

XUÂN

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!
Chao ôi! mong nhớ ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

Chế Lan Viên
(BG - sưu tầm)
Đọc thêm..
TẾT VIỆT NAM 

VÀ PHONG TỤC NGÀY TẾT 

BBT Sưu Tầm (Nhiều Tác Giả) 


Tết Nguyên Đán ở Việt Nam 

Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, từ Nam Quan đến Cà Mau và cả vùng hải đảo, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần “lễ” cũng như phần “hội” đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà.
Việc ông cha ta xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật), chữ NGUYÊN có nghĩa là bắt đầu, chữ ĐÁN có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà, tổ tiên. 

Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này. 

Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilômét, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tình thấy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ… 

Tết cũng là dịp “tính sổ” mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về… Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn. 

Theo tập tục, đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghĩ việc sau lễ “Phất thức” (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày tết được coi trọng như thế nào.
Sau đó, các quan cất vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam chờ đến ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, Tết Cả kéo dài từ ngày 23 tháng chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng giêng (một tuần sau giao thừa). 

Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa! 

Ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng trong những bao giấy đỏ.
Sau lễ giao thừa còn có tục đi đến đền chùa làm lễ sau đó hái về một nhánh cây đem về gọi là hái Lộc, hoặc đốt một nén hương rồi đem về cắm trên bàn thờ gia tiên gọi là Hương Lộc. Họ tin rằng xin được Lộc của trời đất thần Phật ban cho thì sẽ làm ăn phát đạt quanh năm. Sau giao thừa người nào từ ngoài đường bước vào nhà đầu tiên là người “xông nhà”, là người “tốt vía” thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, vì vậy người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân. 

Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hoà thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam. 



Mấy Tục Lệ Trong Ðêm Giao Thừa
                                     Toan Ánh 

Trong Ðêm Giao Thừa, sau khi làm lễ giao thừa xong, có những tục lễ riêng mà cho tới ngày nay từ thôn quê đến thành thị vẫn còn nhiều người theo giữ. 

Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầy phúc cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình. Và nhân dịp người ta thường xin quẻ đầu năm. 

Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm. Ngày nay, người ta đi lễ nhưng ít người kén giờ và kén hướng. 

Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của Trời đất Phật Thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá xùm xòa, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc. Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến Với tin tưởng lộc hái về trong Ðêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn. Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc có nhiều người không đi trong Ðêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tố trong mấy ngày đầu năm và Ði đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn. 

Hương lộc: Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng các đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ Công ở nhà. Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin Phật Thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm. Trong lúc mang nấm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nấm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự. 

Xông nhà: Thường cúng giao thừa ở nhà xong, người gia chủ mới đi lễ đền chùa. Gia đình có nhiều người, thường người ta kén một người dễ vía ra đi từ lúc chưa đúng giờ trừ tịch, rồi khi lễ trừ tịch tới thì dự lễ tại đình chùa hoặc ở thôn xóm, sau đó xin hương lộc hoặc hái cành lộc về. Lúc trở về đã sang năm mới, người này đã tự xông nhà cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Ði xông nhà như vậy tránh được sự phải nhờ một người tốt, vía khác đến xông nhà cho mình. Nếu không có người nhà dễ vía để xông nhà lấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sớm ngày mồng một Tết đến xông nhà, trước khi có khách tới chúc Tết, để người này đem lại sự dễ dãi may mắn lại. 

Trích “Tín Ngưỡng Việt Nam” - Toan Ánh 


Bánh chưng, bánh tét, bánh dày, xôi và cốm
                                     Huỳnh Ngọc Trảng 

Bánh tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp). Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh dày và bánh chưng?... 

Sự tích suy nguyên về bánh chưng và bánh dày mà ngày nay chúng ta đều biết và xác tín là do Tiết Liêu/ Lang Liêu - một trong các người con của vua Hùng - làm ra là câu chuyện được ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái (thế kỷ XV). 
Truyện kể rằng: Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan lang và công tử lại mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”. 
Thế là các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công tử thứ 18 là Tiết Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình đất và trời rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân giúp ta vậy!”. 
Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho sạch, lấy lá xanh bọc chung quanh làm hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa chứa chất vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời gọi là bánh dày. 
Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến dâng bánh chưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất. 
Đến ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước (1). 

Câu chuyện này có một số chi tiết cần phải xem xét: 

1. Trước hết, khái niệm “trời tròn đất vuông” vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc (2). Từ thế kỷ thứ X, An Nam dần dần thoát ly khỏi uy quyền phương Bắc, và đến triều Lý (1009-1225), nước Đại Việt mới thực sự là một quốc gia độc lập. Phật giáo được coi là quốc giáo, Tăng lữ tham gia vào hàng ngũ quan lại, và một số vị vua thời Lý, Trần đã tự mình đứng ra thành lập các tông phái, thiền phái (Lý Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Lý Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Nhân Tông là sơ Tổ Trúc Lâm yên Tử, được tôn là Điều Ngự Giác Hoàng). Tuy vậy, về mặt quản lý nhà nước, do tiếp nhận văn hoá phương Bắc, nước Đại Việt độc lập vẫn tổ chức theo quan niệm vương quyền Nho giáo. Ngoài các khái niệm Thiên Vương, Phật-Vua, vẫn còn thừa nhận khái niệm Thiên Tử (Ông vua Con Trời). Như vậy, vua vẫn phải lưu tâm đến việc tế cáo "Cha Trời, Mẹ Đất" cũng như phong thần các xứ (Thiên Tử phong bách thần) để tỏ rõ uy quyền với các thần linh trong nước. Đàn Xã Tắc lập năm 1048 và đàn Viên Khâu (Gò đất hình tròn, theo nguyên tắc đàn xây ở phía Nam kinh thành để tế trời, gọi là đàn Nam Giao), đàn Vu ở phía Nam kinh thành được nhắc tới vào các năm 1137-1138 (3). Nói chung, việc tế Trời-Đất đến thời Lê mới thực sự hoàn bị theo nghi lễ Nho giáo. Song kể từ thế kỷ XI, việc dựng đàn tròn, đàn vuông để tế "Cha Trời, Mẹ Đất" đã cho thấy khái niệm “trời tròn đất vuông” đã tồn tại trong nếp nghĩ của người dân nước ta từ lâu 

2. Các tác giả Lĩnh Nam Chích Quái sau đó đã khuôn công năng của hai loại bánh này vào việc cúng tổ tiên, tôn vinh chuẩn mực hiếu đạo, một giá trị luân lý cốt lõi của Nho giáo; để vua Hùng nói: “Tiến cúng tiên vương cho ta tròn đạo hiếu”, và cuối truyện xác định: “Đến ngày Tết vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước…”. Tục cúng bánh chưng, bánh dày vào ngày Tết được mô tả từ câu truyện này, về sau được xác tín là tập tục ra đời từ thời Hùng Vương. 

Nhưng Tết, xét từ nguyên uỷ là lễ thức, lễ hội được tiến hành sau mùa gặt hàng năm hay bắt đầu mùa gieo cấy. Thời điểm này tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và tập quán canh tác của mỗi tộc người. Tết như vậy có chức năng kép: tạ ơn thần linh và tổ tiên về kết quả vụ mùa đã qua và cầu mong kết quả cho vụ mùa năm tới. Nói chung, các cư dân nông nghiệp luôn tiến hành một loạt nghi lễ theo các tiến trình phát triển của cây lúa. Với những lễ vật tương ứng. 
- Lúa vừa chín tới: lễ cúng ăn cốm. 
- Lúa chín gặt: lễ cúng cơm mới. 
- Gặt xong đưa vào kho: lễ mừng lúa mới, với lễ vật là các thứ chế biến từ gạo tẻ và nếp như: cơm, xôi, bánh… 

Cốm là lễ vật phổ biến trong lễ cúng mừng lúa lúc đã cứng hạt. Cốm là sản phẩm chế biến bằng cách rang lúa nếp, giã cho dẹp lại và sàng sảy để bỏ trấu đi. Dữ liệu của nhà dân tộc học Từ Chi viết về loại cơm chul (cơm chùn), lễ vật trong dịp Ăn cơm mới của người Mường, tuồng như đã hé mở cho chúng ta biết về nguyên ủy của cốm: lúa gặt về còn ướt sũng, không có thời gian phơi khô, mới được làm thành lễ vật dâng cúng ngay để mọi người bắt tay vào gặt. Chỉ còn một cách là đem “rang” (có hạt bung ra) rồi giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đó chế thành cơm chul (4). Lúa nếp rang nở bung ra mà người miền Bắc gọi là bỏng thì ở Trung Bộ (kể cả Nam Bộ) gọi là nổ. Bánh nổ là lễ vật truyền thống vào dịp Tết ở Trung Bộ, và nổ là lễ vật bắt buộc trong nhiều đám cúng việc lề ở Nam Bộ. Phải chăng đó là di duệ của cốm, và xa xưa hơn là cơm chul? 

Cơm là lễ vật bắt buộc trong lễ cúng cơm mới của nhiều tộc người, và cũng là lễ vật của nhiều lễ cúng khác. Tuy nhiên, vì sự bình dị của nó mà cơm không được người ta coi là lễ vật thực sự như xôi. Rõ ràng trong nếp nghĩ phổ biến của nhiều tộc người, xôi là lễ vật bởi nó phải có trong các cuộc lễ mà hiếm hoi trong bữa ăn thường ngày. Gạo nếp quý hiếm hơn gạo tẻ, và vì có hương thơm nên được chọn làm lễ vật dâng cúng. Nói chung, gạo là thức ăn chính của con người nên nó có ý nghĩa thuộc về nghi lễ. Lúa gạo luôn được coi là có nguồn gốc thiêng liêng, là hạt ngọc trời; nó biểu trưng cho sự sung túc, sự sinh sản dồi dào, nhờ trời mới có và sự thanh khiết nguyên sơ. Người Thái đồ, nấu xôi có nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì)(5). Người Nùng làm xôi bảy màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển, nhưng gắn liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy)(6). Cơm cúng đơm vào chén, bát, thậm chí còn nèn, gọi “chén cơm in”. Còn xôi đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi”, luôn gợi cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung mãn, biểu thị cho sự phồn thực. 

Từ xôi đến bánh dày chỉ là một bước ngắn: lấy xôi nếp giã nát ra và vun lên thành mâm bánh dày. Loại bánh làm bằng nếp như vậy vẫn là lễ vật “thanh khiết nguyên sơ” như xôi. Với người Chăm, lễ vật trong Tết Rija Nưga của họ có xôi, bỏng (nổ) và bánh đúc(7). Với người Dao, trong Tết nhảy của họ có lễ vật không thể thiếu là bánh bằng bột gạo nắn tròn, treo tòng teng trên những cây mía đặt ở gian giữa bàn thờ Bàn Vương(8). Đó là hai ví dụ về hai loại bánh “tròn đầy”, thuộc thứ lễ vật được chế biến bằng bột gạo có phần kỳ công hơn bánh dày. Bánh dày không chỉ là đặc sản của người Việt, mà nó còn là thứ lễ vật bắt buộc, đã thành tục lệ trong văn hóa của nhiều tộc người. Tết của người H'mông là một ví dụ: “Bánh dày là hương vị không thể thiếu, một biểu tượng trên bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết của người H'mông”(9). Ở người H'mông Hang Kia, Pà Cò cũng có truyền thuyết suy nguyên về bánh dày của dân tộc mình. Nội dung truyền thuyết hoàn toàn khác với sự tích bánh chưng bánh dày của người Việt, mà chủ ý là nói về nguồn gốc lúa nếp: ông Tổ người Hmông lấy được từ xứ sở của người tí hon dưới lòng đất, và hàng năm, người Hmông làm bánh dày để tưởng nhớ tổ tiên và tạ ơn con chim đại bàng đã cứu ông Tổ mình ngày xưa(10). Một tập tục liên quan đến loại bánh dày này là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng, tuyệt đối không được nướng bánh dày. Nếu nướng, người H'mông cho rằng năm đó nương rẫy sẽ bị hạn hán(11). Điều này cho chúng ta thấy: bánh dày theo quan niệm của người H'mông là biểu thị nương rẫy, là đất, nói rộng ra là “không gian sinh tồn” . 

3. Nói chung, bánh dày là một lễ vật được hình thành trong một quá trình nhất định, khuôn theo một tâm thức thuần khiết từ quan niệm thiêng về gạo (tẻ và nếp) của cộng đồng các cư dân trồng / tỉa lúa. Nó vừa là nhân vừa là quả của nền văn hóa lúa; ở đó, nó là biểu tượng của tín lý phồn thực hơn là tín lý tư biện về vũ trụ. Điều này cũng có phần tương tự đối với cái bánh chưng. 
Xét về chất lượng, nội dung thì bánh chưng và bánh tét là một, chúng chỉ khác nhau ở hình thức: một là hình vuông và một là hình ống-dài. 
Rảo qua các dữ liệu dân tộc học, chúng ta thấy bánh chưng có ở người Việt miền Bắc, người Mường (gọi là pênh pang), người Thái (gọi là kháu tốm kích), người Tày, người Khmú (gần như bánh chưng tròn của người Tày)… 

Bánh tét có ở người Việt miền Trung, miền Nam, người Thái (cũng có bánh tét gọi là kháu tốm boóng cựa), người Hrê (gọi là bánh mau nhich), người Kadong, người Xinh mun… (12). 
Có thể nói, bánh chưng và bánh tét cùng tồn tại trong đại gia đình các dân tộc ở nước ta, thậm chí cụ thể ngay trong từng tộc người (Thái, Việt…). Vấn đề đặt ra là tại sao cùng là một thứ chất liệu mà gói theo hai kiểu (thậm chí là ba kiểu - nếu kể thêm bánh ú, gói theo kiểu bánh ít “nóc chùa”) để làm gì, và kiểu nào ra đời trước? 
Bánh chưng được gói theo hình vuông, tượng trưng cho trời (Lĩnh Nam chích quái). Bánh tét gói theo hình ống, tròn, dài, biểu tượng sinh thực khí nam, bản nguyên sức mạnh của sự sinh sản(13). Trong thời gian điền dã ở vùng Khmer Nam Bộ, tôi được một vị à-cha (thầy lễ) nói nhỏ vào tai rằng bánh tét là “cái đó của Preah Ầy-Xô” (Preah Ầy-xô là thần Siva). 
Bánh tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp). Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh dày và bánh chưng?... 

Huỳnh Ngọc Trảng 

Chú thích: 
(1) Vũ Quỳnh - Kiều Phú, Lĩnh nam chích quái, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu, In lần thứ hai. NXB Văn Học, H., 1990, tr. 56-58. 
(2) Việc này được nói trong nhiều sách vở. Ở đây, xin xem: 
- Thời cổ Trung Quốc có những lý luận chủ yếu nào về vũ trụ, trong sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Cổ Tịch Thượng Hải (Bản dịch của Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi, NXB Văn Hóa Thông Tin, H; 1999, tập II, tr. 110-114. 
- Tiêu Mạc, Kiến trúc Trung Quốc, Tủ sách Văn hóa Nghệ thuật Trung Quốc (Bản dịch của Mai Chi, NXB Thế giới, H, 2002). 
(3) Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Bản dịch của Trịnh Đình Rư, NXB Văn học, H, 1972, tr. 47 (truyện Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân); tr 81-82 (truyện Ứng thiên hóa dục nguyên trung hậu thổ điạ kỳ nguyên quân). 
(4) Trần Từ, Người Mường ở Hoà Bình, Hội KHLS, H, 1996, tr. 193; 341. (phụ chú P1) 
(5) Vũ Thị Hoa, Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, NXB VHTT, H, 1997, tr. 88-89. 
(6) Trần Hữu Sơn (chủ biên), Lễ hội cổ truyền Lào Cai, NXB Văn hóa Dân tộc, H; 1999, tr. 84-85. 
(7) Ngô Văn Doanh, Tết năm mới cổ truyền của người Chăm (lễ hội Rija Nưgar), trong Tết năm mới ở Việt Nam, NXB VHTT, H; 1999, tr. 141. 
(8) Nguyễn Hữu Thức, Xuân Tết với ngưới Dao Đeo Tiền (Hòa Bình), trong Tết năm mới ở Việt Nam, sđd, tr. 151. 
(9) (10) Nguyễn Hữu Thức, Tết cổ truyền của người Hmông tỉnh Hoà Bình, sđd, tr. 171-172. 
(11) Nguyễn Hữu Thức, bài đã dẫn, tr 184. 
(12) Chúng tôi dựa vào và đối chiếu từ các dữ liệu của một số sách, bài báo đã công bố. Ở vấn đề này, xem Vũ Thị Hoa, sđd, phần người Thái (tr. 75-76) và phần phụ lục (tr. 171-275). 
(13) Xem J. Chevalier và A. Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 92; 265; 534-538; 778-779. 






TẾT VIỆT NAM VÀ PHONG TỤC NGÀY TẾT

TẾT VIỆT NAM 

VÀ PHONG TỤC NGÀY TẾT 

BBT Sưu Tầm (Nhiều Tác Giả) 


Tết Nguyên Đán ở Việt Nam 

Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, từ Nam Quan đến Cà Mau và cả vùng hải đảo, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần “lễ” cũng như phần “hội” đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà.
Việc ông cha ta xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật), chữ NGUYÊN có nghĩa là bắt đầu, chữ ĐÁN có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà, tổ tiên. 

Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này. 

Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilômét, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tình thấy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ… 

Tết cũng là dịp “tính sổ” mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về… Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn. 

Theo tập tục, đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghĩ việc sau lễ “Phất thức” (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày tết được coi trọng như thế nào.
Sau đó, các quan cất vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam chờ đến ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, Tết Cả kéo dài từ ngày 23 tháng chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng giêng (một tuần sau giao thừa). 

Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa! 

Ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng trong những bao giấy đỏ.
Sau lễ giao thừa còn có tục đi đến đền chùa làm lễ sau đó hái về một nhánh cây đem về gọi là hái Lộc, hoặc đốt một nén hương rồi đem về cắm trên bàn thờ gia tiên gọi là Hương Lộc. Họ tin rằng xin được Lộc của trời đất thần Phật ban cho thì sẽ làm ăn phát đạt quanh năm. Sau giao thừa người nào từ ngoài đường bước vào nhà đầu tiên là người “xông nhà”, là người “tốt vía” thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, vì vậy người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân. 

Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hoà thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam. 



Mấy Tục Lệ Trong Ðêm Giao Thừa
                                     Toan Ánh 

Trong Ðêm Giao Thừa, sau khi làm lễ giao thừa xong, có những tục lễ riêng mà cho tới ngày nay từ thôn quê đến thành thị vẫn còn nhiều người theo giữ. 

Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầy phúc cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình. Và nhân dịp người ta thường xin quẻ đầu năm. 

Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm. Ngày nay, người ta đi lễ nhưng ít người kén giờ và kén hướng. 

Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của Trời đất Phật Thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá xùm xòa, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc. Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến Với tin tưởng lộc hái về trong Ðêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn. Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc có nhiều người không đi trong Ðêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tố trong mấy ngày đầu năm và Ði đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn. 

Hương lộc: Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng các đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ Công ở nhà. Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin Phật Thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm. Trong lúc mang nấm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nấm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự. 

Xông nhà: Thường cúng giao thừa ở nhà xong, người gia chủ mới đi lễ đền chùa. Gia đình có nhiều người, thường người ta kén một người dễ vía ra đi từ lúc chưa đúng giờ trừ tịch, rồi khi lễ trừ tịch tới thì dự lễ tại đình chùa hoặc ở thôn xóm, sau đó xin hương lộc hoặc hái cành lộc về. Lúc trở về đã sang năm mới, người này đã tự xông nhà cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Ði xông nhà như vậy tránh được sự phải nhờ một người tốt, vía khác đến xông nhà cho mình. Nếu không có người nhà dễ vía để xông nhà lấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sớm ngày mồng một Tết đến xông nhà, trước khi có khách tới chúc Tết, để người này đem lại sự dễ dãi may mắn lại. 

Trích “Tín Ngưỡng Việt Nam” - Toan Ánh 


Bánh chưng, bánh tét, bánh dày, xôi và cốm
                                     Huỳnh Ngọc Trảng 

Bánh tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp). Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh dày và bánh chưng?... 

Sự tích suy nguyên về bánh chưng và bánh dày mà ngày nay chúng ta đều biết và xác tín là do Tiết Liêu/ Lang Liêu - một trong các người con của vua Hùng - làm ra là câu chuyện được ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái (thế kỷ XV). 
Truyện kể rằng: Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan lang và công tử lại mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”. 
Thế là các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công tử thứ 18 là Tiết Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình đất và trời rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân giúp ta vậy!”. 
Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho sạch, lấy lá xanh bọc chung quanh làm hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa chứa chất vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời gọi là bánh dày. 
Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến dâng bánh chưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất. 
Đến ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước (1). 

Câu chuyện này có một số chi tiết cần phải xem xét: 

1. Trước hết, khái niệm “trời tròn đất vuông” vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc (2). Từ thế kỷ thứ X, An Nam dần dần thoát ly khỏi uy quyền phương Bắc, và đến triều Lý (1009-1225), nước Đại Việt mới thực sự là một quốc gia độc lập. Phật giáo được coi là quốc giáo, Tăng lữ tham gia vào hàng ngũ quan lại, và một số vị vua thời Lý, Trần đã tự mình đứng ra thành lập các tông phái, thiền phái (Lý Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Lý Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Nhân Tông là sơ Tổ Trúc Lâm yên Tử, được tôn là Điều Ngự Giác Hoàng). Tuy vậy, về mặt quản lý nhà nước, do tiếp nhận văn hoá phương Bắc, nước Đại Việt độc lập vẫn tổ chức theo quan niệm vương quyền Nho giáo. Ngoài các khái niệm Thiên Vương, Phật-Vua, vẫn còn thừa nhận khái niệm Thiên Tử (Ông vua Con Trời). Như vậy, vua vẫn phải lưu tâm đến việc tế cáo "Cha Trời, Mẹ Đất" cũng như phong thần các xứ (Thiên Tử phong bách thần) để tỏ rõ uy quyền với các thần linh trong nước. Đàn Xã Tắc lập năm 1048 và đàn Viên Khâu (Gò đất hình tròn, theo nguyên tắc đàn xây ở phía Nam kinh thành để tế trời, gọi là đàn Nam Giao), đàn Vu ở phía Nam kinh thành được nhắc tới vào các năm 1137-1138 (3). Nói chung, việc tế Trời-Đất đến thời Lê mới thực sự hoàn bị theo nghi lễ Nho giáo. Song kể từ thế kỷ XI, việc dựng đàn tròn, đàn vuông để tế "Cha Trời, Mẹ Đất" đã cho thấy khái niệm “trời tròn đất vuông” đã tồn tại trong nếp nghĩ của người dân nước ta từ lâu 

2. Các tác giả Lĩnh Nam Chích Quái sau đó đã khuôn công năng của hai loại bánh này vào việc cúng tổ tiên, tôn vinh chuẩn mực hiếu đạo, một giá trị luân lý cốt lõi của Nho giáo; để vua Hùng nói: “Tiến cúng tiên vương cho ta tròn đạo hiếu”, và cuối truyện xác định: “Đến ngày Tết vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước…”. Tục cúng bánh chưng, bánh dày vào ngày Tết được mô tả từ câu truyện này, về sau được xác tín là tập tục ra đời từ thời Hùng Vương. 

Nhưng Tết, xét từ nguyên uỷ là lễ thức, lễ hội được tiến hành sau mùa gặt hàng năm hay bắt đầu mùa gieo cấy. Thời điểm này tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và tập quán canh tác của mỗi tộc người. Tết như vậy có chức năng kép: tạ ơn thần linh và tổ tiên về kết quả vụ mùa đã qua và cầu mong kết quả cho vụ mùa năm tới. Nói chung, các cư dân nông nghiệp luôn tiến hành một loạt nghi lễ theo các tiến trình phát triển của cây lúa. Với những lễ vật tương ứng. 
- Lúa vừa chín tới: lễ cúng ăn cốm. 
- Lúa chín gặt: lễ cúng cơm mới. 
- Gặt xong đưa vào kho: lễ mừng lúa mới, với lễ vật là các thứ chế biến từ gạo tẻ và nếp như: cơm, xôi, bánh… 

Cốm là lễ vật phổ biến trong lễ cúng mừng lúa lúc đã cứng hạt. Cốm là sản phẩm chế biến bằng cách rang lúa nếp, giã cho dẹp lại và sàng sảy để bỏ trấu đi. Dữ liệu của nhà dân tộc học Từ Chi viết về loại cơm chul (cơm chùn), lễ vật trong dịp Ăn cơm mới của người Mường, tuồng như đã hé mở cho chúng ta biết về nguyên ủy của cốm: lúa gặt về còn ướt sũng, không có thời gian phơi khô, mới được làm thành lễ vật dâng cúng ngay để mọi người bắt tay vào gặt. Chỉ còn một cách là đem “rang” (có hạt bung ra) rồi giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đó chế thành cơm chul (4). Lúa nếp rang nở bung ra mà người miền Bắc gọi là bỏng thì ở Trung Bộ (kể cả Nam Bộ) gọi là nổ. Bánh nổ là lễ vật truyền thống vào dịp Tết ở Trung Bộ, và nổ là lễ vật bắt buộc trong nhiều đám cúng việc lề ở Nam Bộ. Phải chăng đó là di duệ của cốm, và xa xưa hơn là cơm chul? 

Cơm là lễ vật bắt buộc trong lễ cúng cơm mới của nhiều tộc người, và cũng là lễ vật của nhiều lễ cúng khác. Tuy nhiên, vì sự bình dị của nó mà cơm không được người ta coi là lễ vật thực sự như xôi. Rõ ràng trong nếp nghĩ phổ biến của nhiều tộc người, xôi là lễ vật bởi nó phải có trong các cuộc lễ mà hiếm hoi trong bữa ăn thường ngày. Gạo nếp quý hiếm hơn gạo tẻ, và vì có hương thơm nên được chọn làm lễ vật dâng cúng. Nói chung, gạo là thức ăn chính của con người nên nó có ý nghĩa thuộc về nghi lễ. Lúa gạo luôn được coi là có nguồn gốc thiêng liêng, là hạt ngọc trời; nó biểu trưng cho sự sung túc, sự sinh sản dồi dào, nhờ trời mới có và sự thanh khiết nguyên sơ. Người Thái đồ, nấu xôi có nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì)(5). Người Nùng làm xôi bảy màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển, nhưng gắn liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy)(6). Cơm cúng đơm vào chén, bát, thậm chí còn nèn, gọi “chén cơm in”. Còn xôi đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi”, luôn gợi cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung mãn, biểu thị cho sự phồn thực. 

Từ xôi đến bánh dày chỉ là một bước ngắn: lấy xôi nếp giã nát ra và vun lên thành mâm bánh dày. Loại bánh làm bằng nếp như vậy vẫn là lễ vật “thanh khiết nguyên sơ” như xôi. Với người Chăm, lễ vật trong Tết Rija Nưga của họ có xôi, bỏng (nổ) và bánh đúc(7). Với người Dao, trong Tết nhảy của họ có lễ vật không thể thiếu là bánh bằng bột gạo nắn tròn, treo tòng teng trên những cây mía đặt ở gian giữa bàn thờ Bàn Vương(8). Đó là hai ví dụ về hai loại bánh “tròn đầy”, thuộc thứ lễ vật được chế biến bằng bột gạo có phần kỳ công hơn bánh dày. Bánh dày không chỉ là đặc sản của người Việt, mà nó còn là thứ lễ vật bắt buộc, đã thành tục lệ trong văn hóa của nhiều tộc người. Tết của người H'mông là một ví dụ: “Bánh dày là hương vị không thể thiếu, một biểu tượng trên bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết của người H'mông”(9). Ở người H'mông Hang Kia, Pà Cò cũng có truyền thuyết suy nguyên về bánh dày của dân tộc mình. Nội dung truyền thuyết hoàn toàn khác với sự tích bánh chưng bánh dày của người Việt, mà chủ ý là nói về nguồn gốc lúa nếp: ông Tổ người Hmông lấy được từ xứ sở của người tí hon dưới lòng đất, và hàng năm, người Hmông làm bánh dày để tưởng nhớ tổ tiên và tạ ơn con chim đại bàng đã cứu ông Tổ mình ngày xưa(10). Một tập tục liên quan đến loại bánh dày này là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng, tuyệt đối không được nướng bánh dày. Nếu nướng, người H'mông cho rằng năm đó nương rẫy sẽ bị hạn hán(11). Điều này cho chúng ta thấy: bánh dày theo quan niệm của người H'mông là biểu thị nương rẫy, là đất, nói rộng ra là “không gian sinh tồn” . 

3. Nói chung, bánh dày là một lễ vật được hình thành trong một quá trình nhất định, khuôn theo một tâm thức thuần khiết từ quan niệm thiêng về gạo (tẻ và nếp) của cộng đồng các cư dân trồng / tỉa lúa. Nó vừa là nhân vừa là quả của nền văn hóa lúa; ở đó, nó là biểu tượng của tín lý phồn thực hơn là tín lý tư biện về vũ trụ. Điều này cũng có phần tương tự đối với cái bánh chưng. 
Xét về chất lượng, nội dung thì bánh chưng và bánh tét là một, chúng chỉ khác nhau ở hình thức: một là hình vuông và một là hình ống-dài. 
Rảo qua các dữ liệu dân tộc học, chúng ta thấy bánh chưng có ở người Việt miền Bắc, người Mường (gọi là pênh pang), người Thái (gọi là kháu tốm kích), người Tày, người Khmú (gần như bánh chưng tròn của người Tày)… 

Bánh tét có ở người Việt miền Trung, miền Nam, người Thái (cũng có bánh tét gọi là kháu tốm boóng cựa), người Hrê (gọi là bánh mau nhich), người Kadong, người Xinh mun… (12). 
Có thể nói, bánh chưng và bánh tét cùng tồn tại trong đại gia đình các dân tộc ở nước ta, thậm chí cụ thể ngay trong từng tộc người (Thái, Việt…). Vấn đề đặt ra là tại sao cùng là một thứ chất liệu mà gói theo hai kiểu (thậm chí là ba kiểu - nếu kể thêm bánh ú, gói theo kiểu bánh ít “nóc chùa”) để làm gì, và kiểu nào ra đời trước? 
Bánh chưng được gói theo hình vuông, tượng trưng cho trời (Lĩnh Nam chích quái). Bánh tét gói theo hình ống, tròn, dài, biểu tượng sinh thực khí nam, bản nguyên sức mạnh của sự sinh sản(13). Trong thời gian điền dã ở vùng Khmer Nam Bộ, tôi được một vị à-cha (thầy lễ) nói nhỏ vào tai rằng bánh tét là “cái đó của Preah Ầy-Xô” (Preah Ầy-xô là thần Siva). 
Bánh tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp). Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh dày và bánh chưng?... 

Huỳnh Ngọc Trảng 

Chú thích: 
(1) Vũ Quỳnh - Kiều Phú, Lĩnh nam chích quái, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu, In lần thứ hai. NXB Văn Học, H., 1990, tr. 56-58. 
(2) Việc này được nói trong nhiều sách vở. Ở đây, xin xem: 
- Thời cổ Trung Quốc có những lý luận chủ yếu nào về vũ trụ, trong sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Cổ Tịch Thượng Hải (Bản dịch của Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi, NXB Văn Hóa Thông Tin, H; 1999, tập II, tr. 110-114. 
- Tiêu Mạc, Kiến trúc Trung Quốc, Tủ sách Văn hóa Nghệ thuật Trung Quốc (Bản dịch của Mai Chi, NXB Thế giới, H, 2002). 
(3) Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Bản dịch của Trịnh Đình Rư, NXB Văn học, H, 1972, tr. 47 (truyện Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân); tr 81-82 (truyện Ứng thiên hóa dục nguyên trung hậu thổ điạ kỳ nguyên quân). 
(4) Trần Từ, Người Mường ở Hoà Bình, Hội KHLS, H, 1996, tr. 193; 341. (phụ chú P1) 
(5) Vũ Thị Hoa, Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, NXB VHTT, H, 1997, tr. 88-89. 
(6) Trần Hữu Sơn (chủ biên), Lễ hội cổ truyền Lào Cai, NXB Văn hóa Dân tộc, H; 1999, tr. 84-85. 
(7) Ngô Văn Doanh, Tết năm mới cổ truyền của người Chăm (lễ hội Rija Nưgar), trong Tết năm mới ở Việt Nam, NXB VHTT, H; 1999, tr. 141. 
(8) Nguyễn Hữu Thức, Xuân Tết với ngưới Dao Đeo Tiền (Hòa Bình), trong Tết năm mới ở Việt Nam, sđd, tr. 151. 
(9) (10) Nguyễn Hữu Thức, Tết cổ truyền của người Hmông tỉnh Hoà Bình, sđd, tr. 171-172. 
(11) Nguyễn Hữu Thức, bài đã dẫn, tr 184. 
(12) Chúng tôi dựa vào và đối chiếu từ các dữ liệu của một số sách, bài báo đã công bố. Ở vấn đề này, xem Vũ Thị Hoa, sđd, phần người Thái (tr. 75-76) và phần phụ lục (tr. 171-275). 
(13) Xem J. Chevalier và A. Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 92; 265; 534-538; 778-779. 






Đọc thêm..
Trông người rồi nghĩ đến ta
Mà sao cảm thấy xót xa vô cùng
Nước người hợp lực, anh hùng *
Nước mình mang tiếng "anh khùng", vô tâm !

Nghe bất bình, cũng lặng câm
Thấy điều gai mắt, âm thầm bỏ đi
Va quệt chỉ bé tí ti
Biến thành lớn chuyện, nhất nhì ăn thua.

Mới đây người ta tranh đua
Giành giựt, hôi của búa xua trên đường
Hốt nhiều bia - quyết không nhường
Khác nào cảnh cướp, coi thường nghĩa nhân !

Trong lòng chẳng chút phân vân
Người ta kéo đến rần rần thật đông
Rơi xuống đường- là của công
Mặc cho tài xế phập phồng van lơn.

Đúng ra tất cả làm ơn
Trả cho khổ chủ, đẹp hơn tranh giành
Đem về uống chẳng ngon lành
Gây hình ảnh xấu trở thành thói hư.

Nếu ta thích sống riêng tư
Mà không cần biết người như thế nào
Nếu sống chỉ vơ vét vào
Ai chết mặc kệ, khác nào thú đâu !!!

Nhân-Lễ-Nghĩa... mất từ lâu
Đã để vô cảm ăn sâu vào người
Đừng để thế giới chê cười
Dân ơi phải sống xinh tươi đậm tình.

BAT - 8/12/2013_ Lm NgXQuang

DÂN TA ƠI !

Trông người rồi nghĩ đến ta
Mà sao cảm thấy xót xa vô cùng
Nước người hợp lực, anh hùng *
Nước mình mang tiếng "anh khùng", vô tâm !

Nghe bất bình, cũng lặng câm
Thấy điều gai mắt, âm thầm bỏ đi
Va quệt chỉ bé tí ti
Biến thành lớn chuyện, nhất nhì ăn thua.

Mới đây người ta tranh đua
Giành giựt, hôi của búa xua trên đường
Hốt nhiều bia - quyết không nhường
Khác nào cảnh cướp, coi thường nghĩa nhân !

Trong lòng chẳng chút phân vân
Người ta kéo đến rần rần thật đông
Rơi xuống đường- là của công
Mặc cho tài xế phập phồng van lơn.

Đúng ra tất cả làm ơn
Trả cho khổ chủ, đẹp hơn tranh giành
Đem về uống chẳng ngon lành
Gây hình ảnh xấu trở thành thói hư.

Nếu ta thích sống riêng tư
Mà không cần biết người như thế nào
Nếu sống chỉ vơ vét vào
Ai chết mặc kệ, khác nào thú đâu !!!

Nhân-Lễ-Nghĩa... mất từ lâu
Đã để vô cảm ăn sâu vào người
Đừng để thế giới chê cười
Dân ơi phải sống xinh tươi đậm tình.

BAT - 8/12/2013_ Lm NgXQuang
Đọc thêm..



Nhạc Sư Hải Linh 
Và Bản Thánh Ca Giáng Sinh Bất Hủ

Mùa Lễ Hội Giáng Sinh

Hàng Năm khi tiết trời đông về, trời se se lạnh và sau lễ Chúa Kitô Vua là Mùa Vọng - Mùa trông đợi lại đến.
Không khí mùa Noel hay Christmas mà người Mỹ hay Canada thường gọi lại rộn ràng đến với mọi người trên toàn thế giới.

Từ công sở chính quyền, từ các thánh đường lớn nhỏ đến những thương xá, phố thị hay các tư gia đều được kết đèn hoa rực rỡ. Cùng với những cây thông trước các cơ quan được trang trí hàng vạn bóng đèn đủ màu sắc tỏa lan ánh sáng lung linh khi màn đêm buông xuống. Ngoài đường phố các dàn loa khuếnh đại âm thanh ngân vang những bài hát thánh ca Giáng sinh, nổi bật nhất là bản “Silent Night – Đêm Thanh Bình” của Linh mục Joseph Mochv và ông Francis X. Guiber đồng sáng tác và được trình diễn trong hoàn cảnh đặc biệt. Khi chiếc đàn phong cầm trong nhà thờ xứ đạo Ober Nodont  thuộc nước Áo bị hỏng phải dùng đàn Guitar thay thế cho hợp với giai điệu và phối âm bài thơ “Đêm Thánh” không ngờ là quá tuyệt vời, năm ấy là 1918. Để rồi từ đó, bài hát được lan truyền ra toàn thế giới và được dịch ra trên 100 ngôn ngữ khác nhau.
Năm 1948, nhạc sỹ Hùng Lân đã dịch ra tác phẩm này bằng tiếng Việt, đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng” dành cho các xứ đạo từ Nam ra Bắc.
Khi bước vào tuần lễ I Mùa Vọng, ca khúc “Trời cao”: Trời hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội …” vang lên trong các thánh đường bào hiệu mùa lễ hội Giáng Sinh đang trở về, lòng người hân hoan chờ đợi Đấng Cứu Tinh Nhân Loại – Kỷ niệm mầu nhiệm Chúa Giáng Trần.

Vinh Danh Thiên Chúa trên trời – Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Nhạc Sư Hải Linh Và Bản Thánh Ca Giáng Sinh Bất Hủ

Năm 1945, trong thánh lễ đêm Giáng Sinh tại nhà thờ Phát Diệm, nhạc sư Hải Linh điều khiển ca đoàn hát bài thánh ca “Hang Beelem” do ông sáng tác “ Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa…” quá tuyệt vời! Bài hát đã làm xao xuyến rung động toàn thể Giáo dân và các Linh mục trong đó có cả Linh mục Phêrô Phạm Ngọc Chi sau này Ngài đã trở thành Giám mục Phêrô Maria. Lúc bấy giờ nhạc sư Hải Linh mới 25 tuổi.
Vì bản nhạc quá hay nên được ông chủ nhiệm báo “Đường Sống” thuê để khắc vào bản gỗ (lúc đó chưa có máy in) rồi cho in vào báo với 2.000 tờ, còn bản gỗ thì giao lại cho Nhạc Sư in ra ra 500 bản để bán cho các Giáo xứ thu được số tiền khá lớn.
Đức cha Phêrô Maria cũng thưởng cho tu sinh Hải Linh bằng cách gởi Thầy qua Châu Âu để học hỏi thêm về âm nhạc tại Roma và Parisvà Thầy đã tốt nghiệp với bằng ưu hạng tại nhạc viện César Frank, Paris.
Năm 1957, trở về nước ông là Giáo sư âm nhạc tại nhạc viện Sài Gòn; Đà Lạt và ông đã thành lập “Ban hợp ca Hồn Nước”. Họ đã trình diễn tại Đại hội Thánh Mẫu Sài Gòn bằng bản nhạc “Nữ Vương Hòa Bình” do chính Nhạc Sư sáng tác. Tác phẩm này đã được lưu truyền trong tất cả các Giáo phận trong Nước Việt và sang cả Hải ngoại.

Sơ lược tiểu sử nhạc sư Hải Linh
Ông tên thật là Trần Văn Linh, sinh ngày 04-10-1920, có tên thánh là Phanxicô trong một gia đình Công giáo sùng đạo tại làng Ứng Luật, phố Kim Sơn, Nam Định, Địa phận Phát Diệm. Con cụ Phêrô Trần Văn Minh Và cụ bà Maria Nguyễn Thị Lam sinh được 07 người con. Hải Linh là con thứ 02. Người con thứ 06 là Trần Văn Nam, hiện là linh mục, là nhạc sĩ Hùng An.

Hoạt động tại hải ngoại
Năm 1986, nhạc sĩ Hải Linh sang Hoa Kỳ đoàn tụ và tiếp tục mở các lớp đào tạo ca trưởng tại nhiều giáo xứ ở các tiểu bang và điều khiển nhiều buổi trình diễn thánh ca hợp xướng, đặc biệt trong dịp lễ Noel.

Khi được Ủy ban phong Thánh thế giới mời điều khiển ca đoàn tổng hợp ở nước ngoài, nhạc sư mau mắn nhận lời và sáng tác ngay 02 bản nhạc suy tôn các Thánh Tử Đạo Việt Nam là “Kính Mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” và “ Bài Ca Khải Hoàn”, hăng say du hành các nơi tập dợt, chuẩn bị cho ca đoàn tổng hợp sang Roma, hát đại lễ phong Thánh 117 Vị Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày 19 – 06 – 1988. Nhưng bất ngờ, nhạc sư Hải Linh đột ngột qua đời, hưởng thọ 68 tuổi để lại bao luyến tiếc cho Giáo hội Việt Nam, mất đi một thiên tài sáng tác hàng trăm bản thánh ca đủ loại, tiêu biểu là: Hang Belem, Kính mừng Nữ Vương, Ave Maria phổ thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử, Khúc ca mặt trời, Tiếng nhạc oai hùng v.v...

Lời kết, trải qua bao nhiêu thăng trầm của Giáo hội Việt Nam. Mặc cho sóng gió ba đào, trong tâm hồn mọi tín hữu không quên 2 bản thánh ca Giáng Sinh bất hủ: Silent Night (Quốc tế) và Hang Belem (Việt Nam) của nhạc sư Hải Linh vẫn vang vọng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Mùa Giáng Sinh tới, chúng ta hãy cầu nguyện cho linh hồn Nhạc sư Hải Linh sớm về Nước Chúa.

                                                                                                           Phêrô Nguyễn Đức Hiến

                                                                                                                 (Viết và Sưu tầm)

Nhạc Sư Hải Linh




Nhạc Sư Hải Linh 
Và Bản Thánh Ca Giáng Sinh Bất Hủ

Mùa Lễ Hội Giáng Sinh

Hàng Năm khi tiết trời đông về, trời se se lạnh và sau lễ Chúa Kitô Vua là Mùa Vọng - Mùa trông đợi lại đến.
Không khí mùa Noel hay Christmas mà người Mỹ hay Canada thường gọi lại rộn ràng đến với mọi người trên toàn thế giới.

Từ công sở chính quyền, từ các thánh đường lớn nhỏ đến những thương xá, phố thị hay các tư gia đều được kết đèn hoa rực rỡ. Cùng với những cây thông trước các cơ quan được trang trí hàng vạn bóng đèn đủ màu sắc tỏa lan ánh sáng lung linh khi màn đêm buông xuống. Ngoài đường phố các dàn loa khuếnh đại âm thanh ngân vang những bài hát thánh ca Giáng sinh, nổi bật nhất là bản “Silent Night – Đêm Thanh Bình” của Linh mục Joseph Mochv và ông Francis X. Guiber đồng sáng tác và được trình diễn trong hoàn cảnh đặc biệt. Khi chiếc đàn phong cầm trong nhà thờ xứ đạo Ober Nodont  thuộc nước Áo bị hỏng phải dùng đàn Guitar thay thế cho hợp với giai điệu và phối âm bài thơ “Đêm Thánh” không ngờ là quá tuyệt vời, năm ấy là 1918. Để rồi từ đó, bài hát được lan truyền ra toàn thế giới và được dịch ra trên 100 ngôn ngữ khác nhau.
Năm 1948, nhạc sỹ Hùng Lân đã dịch ra tác phẩm này bằng tiếng Việt, đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng” dành cho các xứ đạo từ Nam ra Bắc.
Khi bước vào tuần lễ I Mùa Vọng, ca khúc “Trời cao”: Trời hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội …” vang lên trong các thánh đường bào hiệu mùa lễ hội Giáng Sinh đang trở về, lòng người hân hoan chờ đợi Đấng Cứu Tinh Nhân Loại – Kỷ niệm mầu nhiệm Chúa Giáng Trần.

Vinh Danh Thiên Chúa trên trời – Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Nhạc Sư Hải Linh Và Bản Thánh Ca Giáng Sinh Bất Hủ

Năm 1945, trong thánh lễ đêm Giáng Sinh tại nhà thờ Phát Diệm, nhạc sư Hải Linh điều khiển ca đoàn hát bài thánh ca “Hang Beelem” do ông sáng tác “ Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa…” quá tuyệt vời! Bài hát đã làm xao xuyến rung động toàn thể Giáo dân và các Linh mục trong đó có cả Linh mục Phêrô Phạm Ngọc Chi sau này Ngài đã trở thành Giám mục Phêrô Maria. Lúc bấy giờ nhạc sư Hải Linh mới 25 tuổi.
Vì bản nhạc quá hay nên được ông chủ nhiệm báo “Đường Sống” thuê để khắc vào bản gỗ (lúc đó chưa có máy in) rồi cho in vào báo với 2.000 tờ, còn bản gỗ thì giao lại cho Nhạc Sư in ra ra 500 bản để bán cho các Giáo xứ thu được số tiền khá lớn.
Đức cha Phêrô Maria cũng thưởng cho tu sinh Hải Linh bằng cách gởi Thầy qua Châu Âu để học hỏi thêm về âm nhạc tại Roma và Parisvà Thầy đã tốt nghiệp với bằng ưu hạng tại nhạc viện César Frank, Paris.
Năm 1957, trở về nước ông là Giáo sư âm nhạc tại nhạc viện Sài Gòn; Đà Lạt và ông đã thành lập “Ban hợp ca Hồn Nước”. Họ đã trình diễn tại Đại hội Thánh Mẫu Sài Gòn bằng bản nhạc “Nữ Vương Hòa Bình” do chính Nhạc Sư sáng tác. Tác phẩm này đã được lưu truyền trong tất cả các Giáo phận trong Nước Việt và sang cả Hải ngoại.

Sơ lược tiểu sử nhạc sư Hải Linh
Ông tên thật là Trần Văn Linh, sinh ngày 04-10-1920, có tên thánh là Phanxicô trong một gia đình Công giáo sùng đạo tại làng Ứng Luật, phố Kim Sơn, Nam Định, Địa phận Phát Diệm. Con cụ Phêrô Trần Văn Minh Và cụ bà Maria Nguyễn Thị Lam sinh được 07 người con. Hải Linh là con thứ 02. Người con thứ 06 là Trần Văn Nam, hiện là linh mục, là nhạc sĩ Hùng An.

Hoạt động tại hải ngoại
Năm 1986, nhạc sĩ Hải Linh sang Hoa Kỳ đoàn tụ và tiếp tục mở các lớp đào tạo ca trưởng tại nhiều giáo xứ ở các tiểu bang và điều khiển nhiều buổi trình diễn thánh ca hợp xướng, đặc biệt trong dịp lễ Noel.

Khi được Ủy ban phong Thánh thế giới mời điều khiển ca đoàn tổng hợp ở nước ngoài, nhạc sư mau mắn nhận lời và sáng tác ngay 02 bản nhạc suy tôn các Thánh Tử Đạo Việt Nam là “Kính Mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” và “ Bài Ca Khải Hoàn”, hăng say du hành các nơi tập dợt, chuẩn bị cho ca đoàn tổng hợp sang Roma, hát đại lễ phong Thánh 117 Vị Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày 19 – 06 – 1988. Nhưng bất ngờ, nhạc sư Hải Linh đột ngột qua đời, hưởng thọ 68 tuổi để lại bao luyến tiếc cho Giáo hội Việt Nam, mất đi một thiên tài sáng tác hàng trăm bản thánh ca đủ loại, tiêu biểu là: Hang Belem, Kính mừng Nữ Vương, Ave Maria phổ thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử, Khúc ca mặt trời, Tiếng nhạc oai hùng v.v...

Lời kết, trải qua bao nhiêu thăng trầm của Giáo hội Việt Nam. Mặc cho sóng gió ba đào, trong tâm hồn mọi tín hữu không quên 2 bản thánh ca Giáng Sinh bất hủ: Silent Night (Quốc tế) và Hang Belem (Việt Nam) của nhạc sư Hải Linh vẫn vang vọng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Mùa Giáng Sinh tới, chúng ta hãy cầu nguyện cho linh hồn Nhạc sư Hải Linh sớm về Nước Chúa.

                                                                                                           Phêrô Nguyễn Đức Hiến

                                                                                                                 (Viết và Sưu tầm)
Đọc thêm..

1. Quá bao bọc

Trong một thế giới có quá nhều tin tức kiểu như giết người, bắt cóc trẻ em, lạm dụng ma túy, Internet, an toàn thực phẩm …cha mẹ nào cũng lo lắng bảo vệ con mình hơn bao giờ hết. Nhưng thực tế những trẻ vị thành niên có bố mẹ quá kiểm soát và bao bọc dường lại tồi tệ hơn và gặp nhiều vấn đề rắc rối hơn những trẻ được bố mẹ đối xử đúng cách.

Đối với những trẻ vị thành niên khi biết bố mẹ quá bao bọc, không muốn cho trẻ làm những gì mà bạn bè chúng có thể làm như đi chơi, đến dự các buổi tiệc, hay đi trung tâm mua sắm… chúng sẽ bắt đầu bí mật và nói dối để đạt được nguyện vọng của mình. Với những đứa trẻ có bố mẹ cấm làm những điều đơn giản như nói chuyện điện thoại, hoặc ngồi máy tính khi không có sự theo dõi của bố mẹ… chúng sẽ tự đặt câu hỏi về quyền lực của bố mẹ mình bởi vì những bố mẹ khác không đối xử với các bạn của chúng như thế.

Một phụ huynh quá lạm dụng quyền lực làm cha mẹ của mình đối với con cái sẽ làm mất đi sự tôn trọng của chúng đối với họ. Đừng tự biến mình là nguyên nhân gây nổi loạn của những đứa trẻ.

2. Thiếu trách nhiệm
Không để cho trẻ phải chịu trách nhiệm về những điều như nói dối, lừa dối, ăn cắp và những hành vi không phù hợp khác có thể tiêm nhiễm vào đầu trẻ rằng “những quy tắc đó có thể không phải áp dụng với mình”. Khi trẻ luôn phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình từ khi còn rất nhỏ, chúng sẽ nhanh chóng tìm hiểu về hậu quả của hành vi không phù hợp. Theo đó, trẻ cũng sẽ tìm hiểu về kết quả nếu làm những hành vi tích cực.

Cần dạy cho trẻ hiểu trẻ sẽ đánh mất sự tự do và các đặc quyền nếu vi phạm những điều như ăn cắp hoặc nói dối. Việc làm này giúp trẻ thấm nhuần những nguyên nhân và hệ quả cho các hành vi sau này trong cuộc đời của mình. Bố mẹ cần tránh việc ngay lập tức đến “cứu hộ” khi trẻ có những hành vi tiêu cực. Vì nếu được bố mẹ “cứu hộ” trẻ thành con người thiếu tính chịu trách nhiệm. Trong những trường hợp như thế trẻ sẽ hiểu chúng đang ở trong những tình thế không mong muốn vì đã hành động tiêu cực và chỉ có tự bản thân trẻ mới giúp thoát khỏi tình trạng đó. Khi trẻ đã học được những điều này, trẻ sẽ tự quyết định và rèn luyện để ít đưa ra những quyết định kém thông minh trong cuộc sống sau này.

3. Ít giao tiếp với con
Hãy để cho trẻ hiểu rằng chúng có thể đến bên cha mẹ và nói về bất cứ điều gì – đây là bước đi đầu tiên để tạo ra những cuộc giao tiếp cởi mở với con. Nếu bạn muốn trẻ mở lòng với mình, bạn cần mở lòng với trẻ trước và làm cho chúng hiểu rằng chúng sẽ không bị chê trách nếu nói ra các vấn đề của mình cho bố mẹ biết. Hãy bắt đầu cuộc trò chuyện theo cách bạn đã đặt mình vào vị thế của trẻ và bạn có thể thảo luận cùng con thay vì đưa ra những lời giáo huấn, giảng giải.

Thiếu giao tiếp trong gia đình có thể khiến trẻ tìm đến bạn bè – những người cũng có khó khăn như trẻ và không thể đưa ra những quyết định phù hợp bởi chúng chư đủ trưởng thành để có thể hiểu được những quyết định đó tác động đến tương lai như thế nào.

4. Cấm trẻ làm những điều bố mẹ nghĩ là bạo lực
Trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ, việc cấm đoán trẻ làm những điều họ nghĩ là bạo lực là cách tốt nhất để ngăn chặn trẻ nhưng thực tế không phải như vậy. Trẻ lớn lên trong những gia đình có bố mẹ không cho phép chơi với những món đồ chơi mô phỏng vũ khí như súng, gươm hoặc chơi trò chơi video bạo lực, hoặc xem phim bạo lực cũng sẽ vẫn tham gia vào các hành vi bạo lực vì trẻ chỉ chờ đợi để làm như vậy khi không có bố mẹ kiểm soát ở bên.

Thậm chí những trẻ quá được bảo vệ trước những thông tin về bạo lực vẫn sẽ tham gia vào các hành vi này và nhiều khả năng sẽ có thái độ ám ảnh về những điều đã bị cấm. Trẻ sẽ có xu hướng tiếp xúc với phim bạo lực và trò chơi video tại nhà bạn bè thậm chí tại các trung tâm mua sắm. Việc cấm đoán sẽ chỉ làm tăng ham muốn, và việc cố gắng tìm hiểu chúng có được chúng ở mức độ không bình thường.

Hầu hết trên ti vi ngày này là các tin tức về bạo lực, vì vậy việc ngăn ngừa bạo lực dường như là không thể. Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, bạn cần giảng giải cho trẻ sự khác biệt giữa đúng và sai trong cuộc sống thực sự. Phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong thời gian dài.

5. Không gương mẫu
Việc bạn dạy con một số hành vi là không thể chấp nhận được và cấm đoán con không được làm nhưng sau đó lại làm đúng những hành vi đó trước mặt chúng thực sự là một thảm họa. Ví dụ, bạn dạy con rượu không tốt cho sức khỏe nhưng lại không kiểm soát được lượng rượu mình uống trong bữa ăn. Hay bạn đã dạy con nói dối và ăn cắp là những hành vi xấu nhưng lại không trung thực, không trả lại tiền thừa khi người bán hàng thối lại nhầm, hay không trả tiền cho một món hàng mua tại quầy tạp hóa là những hành vi mâu thuẫn nhau. Bạn đang thể hiện những hành vi mà chính bạn đã cấm đoán trẻ. Trẻ sẽ không hiểu được những mâu thuẫn đó, chúng không nhận ra sự khác biệt. Và có thể sẽ phá vỡ các quy tắc bạn đã dạy từ đầu.

Vì vậy, hãy trung thực và để cho trẻ thấy rằng bạn cũng sống và tuân thủ theo những nguyên tắc mà bạn mong muốn trẻ làm. Trẻ sẽ tôn trọng bạn hơn khi bạn làm gương và sẽ làm theo những hành vi tốt của bạn.

6. Không bao giờ để cho trẻ lớn lên
Luôn luôn muốn kiểm soát trẻ ở tuổi vị thành niên sẽ khiến trẻ muốn lớn lên thật nhanh, kết quả là chúng sẽ không có sự chuẩn bị đầy đủ để bước vào tuổi trưởng thành. Thanh thiếu niên được bố mẹ đối xử chăm sóc, bao bọc như những đứa trẻ có thể có nhiều hành vi xấu. Thay vào đó chào đón giai đoạn trưởng thành của trẻ, hãy tìm hiểu tâm lý giai đoạn phát triển tiếp theo của trẻ để gắn kết cùng con. Bạn không thể trì hoãn quá trình lớn lên của trẻ. Làm như vậy hoàn toàn là vô ích và có hại cho sự phát triển cảm xúc của trẻ khi chúng trưởng thành. Cố gắng kìm hãm sự phát triển của trẻ là ích kỷ để lại những tác động tiêu cực đến mọi khía cạnh đời sống của trẻ.

Gia Hân
Theo Lifehack
Yeutretho/Seatimes

6 lỗi nuôi dạy có thể làm hỏng tương lai của trẻ


1. Quá bao bọc

Trong một thế giới có quá nhều tin tức kiểu như giết người, bắt cóc trẻ em, lạm dụng ma túy, Internet, an toàn thực phẩm …cha mẹ nào cũng lo lắng bảo vệ con mình hơn bao giờ hết. Nhưng thực tế những trẻ vị thành niên có bố mẹ quá kiểm soát và bao bọc dường lại tồi tệ hơn và gặp nhiều vấn đề rắc rối hơn những trẻ được bố mẹ đối xử đúng cách.

Đối với những trẻ vị thành niên khi biết bố mẹ quá bao bọc, không muốn cho trẻ làm những gì mà bạn bè chúng có thể làm như đi chơi, đến dự các buổi tiệc, hay đi trung tâm mua sắm… chúng sẽ bắt đầu bí mật và nói dối để đạt được nguyện vọng của mình. Với những đứa trẻ có bố mẹ cấm làm những điều đơn giản như nói chuyện điện thoại, hoặc ngồi máy tính khi không có sự theo dõi của bố mẹ… chúng sẽ tự đặt câu hỏi về quyền lực của bố mẹ mình bởi vì những bố mẹ khác không đối xử với các bạn của chúng như thế.

Một phụ huynh quá lạm dụng quyền lực làm cha mẹ của mình đối với con cái sẽ làm mất đi sự tôn trọng của chúng đối với họ. Đừng tự biến mình là nguyên nhân gây nổi loạn của những đứa trẻ.

2. Thiếu trách nhiệm
Không để cho trẻ phải chịu trách nhiệm về những điều như nói dối, lừa dối, ăn cắp và những hành vi không phù hợp khác có thể tiêm nhiễm vào đầu trẻ rằng “những quy tắc đó có thể không phải áp dụng với mình”. Khi trẻ luôn phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình từ khi còn rất nhỏ, chúng sẽ nhanh chóng tìm hiểu về hậu quả của hành vi không phù hợp. Theo đó, trẻ cũng sẽ tìm hiểu về kết quả nếu làm những hành vi tích cực.

Cần dạy cho trẻ hiểu trẻ sẽ đánh mất sự tự do và các đặc quyền nếu vi phạm những điều như ăn cắp hoặc nói dối. Việc làm này giúp trẻ thấm nhuần những nguyên nhân và hệ quả cho các hành vi sau này trong cuộc đời của mình. Bố mẹ cần tránh việc ngay lập tức đến “cứu hộ” khi trẻ có những hành vi tiêu cực. Vì nếu được bố mẹ “cứu hộ” trẻ thành con người thiếu tính chịu trách nhiệm. Trong những trường hợp như thế trẻ sẽ hiểu chúng đang ở trong những tình thế không mong muốn vì đã hành động tiêu cực và chỉ có tự bản thân trẻ mới giúp thoát khỏi tình trạng đó. Khi trẻ đã học được những điều này, trẻ sẽ tự quyết định và rèn luyện để ít đưa ra những quyết định kém thông minh trong cuộc sống sau này.

3. Ít giao tiếp với con
Hãy để cho trẻ hiểu rằng chúng có thể đến bên cha mẹ và nói về bất cứ điều gì – đây là bước đi đầu tiên để tạo ra những cuộc giao tiếp cởi mở với con. Nếu bạn muốn trẻ mở lòng với mình, bạn cần mở lòng với trẻ trước và làm cho chúng hiểu rằng chúng sẽ không bị chê trách nếu nói ra các vấn đề của mình cho bố mẹ biết. Hãy bắt đầu cuộc trò chuyện theo cách bạn đã đặt mình vào vị thế của trẻ và bạn có thể thảo luận cùng con thay vì đưa ra những lời giáo huấn, giảng giải.

Thiếu giao tiếp trong gia đình có thể khiến trẻ tìm đến bạn bè – những người cũng có khó khăn như trẻ và không thể đưa ra những quyết định phù hợp bởi chúng chư đủ trưởng thành để có thể hiểu được những quyết định đó tác động đến tương lai như thế nào.

4. Cấm trẻ làm những điều bố mẹ nghĩ là bạo lực
Trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ, việc cấm đoán trẻ làm những điều họ nghĩ là bạo lực là cách tốt nhất để ngăn chặn trẻ nhưng thực tế không phải như vậy. Trẻ lớn lên trong những gia đình có bố mẹ không cho phép chơi với những món đồ chơi mô phỏng vũ khí như súng, gươm hoặc chơi trò chơi video bạo lực, hoặc xem phim bạo lực cũng sẽ vẫn tham gia vào các hành vi bạo lực vì trẻ chỉ chờ đợi để làm như vậy khi không có bố mẹ kiểm soát ở bên.

Thậm chí những trẻ quá được bảo vệ trước những thông tin về bạo lực vẫn sẽ tham gia vào các hành vi này và nhiều khả năng sẽ có thái độ ám ảnh về những điều đã bị cấm. Trẻ sẽ có xu hướng tiếp xúc với phim bạo lực và trò chơi video tại nhà bạn bè thậm chí tại các trung tâm mua sắm. Việc cấm đoán sẽ chỉ làm tăng ham muốn, và việc cố gắng tìm hiểu chúng có được chúng ở mức độ không bình thường.

Hầu hết trên ti vi ngày này là các tin tức về bạo lực, vì vậy việc ngăn ngừa bạo lực dường như là không thể. Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, bạn cần giảng giải cho trẻ sự khác biệt giữa đúng và sai trong cuộc sống thực sự. Phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong thời gian dài.

5. Không gương mẫu
Việc bạn dạy con một số hành vi là không thể chấp nhận được và cấm đoán con không được làm nhưng sau đó lại làm đúng những hành vi đó trước mặt chúng thực sự là một thảm họa. Ví dụ, bạn dạy con rượu không tốt cho sức khỏe nhưng lại không kiểm soát được lượng rượu mình uống trong bữa ăn. Hay bạn đã dạy con nói dối và ăn cắp là những hành vi xấu nhưng lại không trung thực, không trả lại tiền thừa khi người bán hàng thối lại nhầm, hay không trả tiền cho một món hàng mua tại quầy tạp hóa là những hành vi mâu thuẫn nhau. Bạn đang thể hiện những hành vi mà chính bạn đã cấm đoán trẻ. Trẻ sẽ không hiểu được những mâu thuẫn đó, chúng không nhận ra sự khác biệt. Và có thể sẽ phá vỡ các quy tắc bạn đã dạy từ đầu.

Vì vậy, hãy trung thực và để cho trẻ thấy rằng bạn cũng sống và tuân thủ theo những nguyên tắc mà bạn mong muốn trẻ làm. Trẻ sẽ tôn trọng bạn hơn khi bạn làm gương và sẽ làm theo những hành vi tốt của bạn.

6. Không bao giờ để cho trẻ lớn lên
Luôn luôn muốn kiểm soát trẻ ở tuổi vị thành niên sẽ khiến trẻ muốn lớn lên thật nhanh, kết quả là chúng sẽ không có sự chuẩn bị đầy đủ để bước vào tuổi trưởng thành. Thanh thiếu niên được bố mẹ đối xử chăm sóc, bao bọc như những đứa trẻ có thể có nhiều hành vi xấu. Thay vào đó chào đón giai đoạn trưởng thành của trẻ, hãy tìm hiểu tâm lý giai đoạn phát triển tiếp theo của trẻ để gắn kết cùng con. Bạn không thể trì hoãn quá trình lớn lên của trẻ. Làm như vậy hoàn toàn là vô ích và có hại cho sự phát triển cảm xúc của trẻ khi chúng trưởng thành. Cố gắng kìm hãm sự phát triển của trẻ là ích kỷ để lại những tác động tiêu cực đến mọi khía cạnh đời sống của trẻ.

Gia Hân
Theo Lifehack
Yeutretho/Seatimes

Đọc thêm..
Nằm ở độ cao gần 1.000 m so với mặt nước biển, thị trấn Tam Đảo (H.Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) được xem là một điểm du lịch khá lý tưởng.

Ngoài khí hậu mát mẻ với nhiều thắng cảnh, địa danh nổi tiếng như thác Bạc, rừng quốc gia Tam Đảo, đường lên Cổng trời…, điểm nổi bật nhất ở thị trấn này chính là nét độc đáo của những công trình kiến trúc.

Trong hàng ngàn tòa biệt thự nằm san sát nhau tạo thành những khu phố hiện đại còn có một công trình mang nét kiến trúc xưa của phương Tây sừng sững giữa mây trời: nhà thờ đá Tam Đảo.

Nhà thờ đá cổ nằm ngay trung tâm thị trấn Tam Đảo, bên con đường bêtông dẫn lên đỉnh Thiên Nhị (nơi có tháp truyền hình nổi tiếng). Theo tài liệu, nhà thờ Tam Đảo được xây dựng từ năm 1906 đến năm 1912, tọa lạc tại trung tâm thị trấn Tam Đảo, bên con đường dẫn lên đỉnh núi Thiên Nhị. Ban đầu, người Pháp chỉ dựng mô hình nhà sàn lợp lá, đến năm 1937 nhà thờ chính thức được xây dựng lại kiên cố bằng đá và tồn tại cho tới ngày nay.

Về mặt kiến trúc, nhà thờ Tam Đảo được xây dựng bằng đá trên một triền đất cao theo mô hình kiến trúc Gothic. Công trình đứng uy nghi, trầm mặc.

Nhà thờ cổ có hai tầng với tầng nền cao 10m. Tầng dưới của tòa nhà rộng rãi, có nhiều lối đi bên cạnh mặt đường lớn, ở hai bên sườn nhà với những bậc đá dẫn lên tầng trên. Lên tầng 2 sẽ có một khoảng sân rộng có thể chứa được 100 người đứng hóng mát hoặc cầu nguyện mỗi khi hoàng hôn về. Bên trong nền tầng hai có một tòa thánh đường rộng 286m2 (dài 26m, rộng 11m) được xây dựng từ năm 1937 để giáo dân xứ Tam Đảo làm lễ cầu kinh, liền đó là gian tháp chuông cao vút đứng chọc trời.

Đứng trên nền sân thoáng nhìn về phía trước là những ô cửa cuốn theo phong cách kiến trúc vòm mang đậm nét châu Âu. Cỏ cây um tùm bao phủ khu nhà thờ đá cổ, che đậy phần nào những hoa văn xưa. Nhưng xét về mặt mặt kiến trúc cũng như vẻ đẹp mỹ lệ thì không có công trình nào của thời hiện tại sánh được với ngôi nhà thờ dường như đã bỏ hoang này.

Những đường nét, chi tiết hoa văn đá nổi hình ngũ giác, lục giác của công trình vẫn còn hiển hiện trên từng vách tường, cầu thang để một lần nữa khẳng định người Pháp không chỉ là bậc thầy về kiến trúc tiện dụng mà còn rất hào hoa, lãng mạn.

Ngày nay, du khách đến Tam Đảo tham quan nghỉ mát, dường như không ai không ghé thăm ngôi nhà thờ. Một điều đặc biệt là, dù đứng bất kỳ nơi nào trong thị trấn chúng ta cũng dễ dàng nhìn thấy toàn cảnh kiến trúc của tòa nhà. Ở đây, suốt ngày mây bay lững lờ, có lúc từng đám mây sà đậu trên mái ngói nhà thờ. Cũng có lúc mây bao phủ dày đặc, toàn cảnh thị trấn chỉ nhìn thấy được chiếc tháp chuông của nhà thờ còn lại cao vút.

Đến tham quan nhà thờ bất kỳ thời điểm nào trong năm cũng thấy đẹp. Đến đây, chúng ta sẽ tận mắt nhìn thấy một nét đẹp kiến trúc hiện đại giữa khung cảnh núi trời nên thơ đến nao lòng, được tận tay sờ vào những viên đá rêu phong ngả màu mang nét đẹp trầm tích, được chụp những tấm ảnh lưu niệm tuyệt đẹp với không khí màn sương lúc ẩn lúc hiện lững lờ trên phố núi.

Cùng với một số nhà thờ đá nổi tiếng ở nước ta như nhà thờ đá ở Nha Trang (Khánh Hòa), nhà thờ đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), nhà thờ đá Tam Đảo là một trong những di tích thắng cảnh độc đáo vừa mang nét kiến trúc rất tiêu biểu còn in dấu tại Việt Nam. Những ai yêu cái hồn kiến trúc xưa cũ ở Tam Đảo đều mong công trình này sẽ sống mãi cùng thời gian để minh chứng cho vẻ đẹp nghệ thuật mãi trường tồn.

Tổng hợp từ internet

Độc đáo nhà thờ đá Tam Đảo

Nằm ở độ cao gần 1.000 m so với mặt nước biển, thị trấn Tam Đảo (H.Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) được xem là một điểm du lịch khá lý tưởng.

Ngoài khí hậu mát mẻ với nhiều thắng cảnh, địa danh nổi tiếng như thác Bạc, rừng quốc gia Tam Đảo, đường lên Cổng trời…, điểm nổi bật nhất ở thị trấn này chính là nét độc đáo của những công trình kiến trúc.

Trong hàng ngàn tòa biệt thự nằm san sát nhau tạo thành những khu phố hiện đại còn có một công trình mang nét kiến trúc xưa của phương Tây sừng sững giữa mây trời: nhà thờ đá Tam Đảo.

Nhà thờ đá cổ nằm ngay trung tâm thị trấn Tam Đảo, bên con đường bêtông dẫn lên đỉnh Thiên Nhị (nơi có tháp truyền hình nổi tiếng). Theo tài liệu, nhà thờ Tam Đảo được xây dựng từ năm 1906 đến năm 1912, tọa lạc tại trung tâm thị trấn Tam Đảo, bên con đường dẫn lên đỉnh núi Thiên Nhị. Ban đầu, người Pháp chỉ dựng mô hình nhà sàn lợp lá, đến năm 1937 nhà thờ chính thức được xây dựng lại kiên cố bằng đá và tồn tại cho tới ngày nay.

Về mặt kiến trúc, nhà thờ Tam Đảo được xây dựng bằng đá trên một triền đất cao theo mô hình kiến trúc Gothic. Công trình đứng uy nghi, trầm mặc.

Nhà thờ cổ có hai tầng với tầng nền cao 10m. Tầng dưới của tòa nhà rộng rãi, có nhiều lối đi bên cạnh mặt đường lớn, ở hai bên sườn nhà với những bậc đá dẫn lên tầng trên. Lên tầng 2 sẽ có một khoảng sân rộng có thể chứa được 100 người đứng hóng mát hoặc cầu nguyện mỗi khi hoàng hôn về. Bên trong nền tầng hai có một tòa thánh đường rộng 286m2 (dài 26m, rộng 11m) được xây dựng từ năm 1937 để giáo dân xứ Tam Đảo làm lễ cầu kinh, liền đó là gian tháp chuông cao vút đứng chọc trời.

Đứng trên nền sân thoáng nhìn về phía trước là những ô cửa cuốn theo phong cách kiến trúc vòm mang đậm nét châu Âu. Cỏ cây um tùm bao phủ khu nhà thờ đá cổ, che đậy phần nào những hoa văn xưa. Nhưng xét về mặt mặt kiến trúc cũng như vẻ đẹp mỹ lệ thì không có công trình nào của thời hiện tại sánh được với ngôi nhà thờ dường như đã bỏ hoang này.

Những đường nét, chi tiết hoa văn đá nổi hình ngũ giác, lục giác của công trình vẫn còn hiển hiện trên từng vách tường, cầu thang để một lần nữa khẳng định người Pháp không chỉ là bậc thầy về kiến trúc tiện dụng mà còn rất hào hoa, lãng mạn.

Ngày nay, du khách đến Tam Đảo tham quan nghỉ mát, dường như không ai không ghé thăm ngôi nhà thờ. Một điều đặc biệt là, dù đứng bất kỳ nơi nào trong thị trấn chúng ta cũng dễ dàng nhìn thấy toàn cảnh kiến trúc của tòa nhà. Ở đây, suốt ngày mây bay lững lờ, có lúc từng đám mây sà đậu trên mái ngói nhà thờ. Cũng có lúc mây bao phủ dày đặc, toàn cảnh thị trấn chỉ nhìn thấy được chiếc tháp chuông của nhà thờ còn lại cao vút.

Đến tham quan nhà thờ bất kỳ thời điểm nào trong năm cũng thấy đẹp. Đến đây, chúng ta sẽ tận mắt nhìn thấy một nét đẹp kiến trúc hiện đại giữa khung cảnh núi trời nên thơ đến nao lòng, được tận tay sờ vào những viên đá rêu phong ngả màu mang nét đẹp trầm tích, được chụp những tấm ảnh lưu niệm tuyệt đẹp với không khí màn sương lúc ẩn lúc hiện lững lờ trên phố núi.

Cùng với một số nhà thờ đá nổi tiếng ở nước ta như nhà thờ đá ở Nha Trang (Khánh Hòa), nhà thờ đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), nhà thờ đá Tam Đảo là một trong những di tích thắng cảnh độc đáo vừa mang nét kiến trúc rất tiêu biểu còn in dấu tại Việt Nam. Những ai yêu cái hồn kiến trúc xưa cũ ở Tam Đảo đều mong công trình này sẽ sống mãi cùng thời gian để minh chứng cho vẻ đẹp nghệ thuật mãi trường tồn.

Tổng hợp từ internet
Đọc thêm..